"Con không biết rằng Cha thường đối xử với bạn bè bằng cách gửi cho họ Thánh Giá sao?"

Tình yêu là số 0!

Tình yêu là số 0. Dù có thêm bao nhiêu vào bao nhiêu số 0 đi chăng nữa, thì kết cục cũng chỉ nhận lấy thất bại mà thôi... Đừng có ngớ ngẩn như vậy chứ. Số 0 là điểm khởi đầu của tất cả. Không xuất phát từ nó thì không gì có thể tồn tại được!

Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít

Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin mừng cho mọi tạo vật. (Mc 16: 15-18)

Tôi ghét sách!!!

Chúng chỉ dậy tôi về những điều mà tôi chẳng biết gì. Tôi đọc lòi cả mắt và vẫn không đọc được đủ tới một nửa... Tôi càng đọc nhiều, tôi càng thấy còn nhiều điều cần phải đọc.

Tôi sống hết tôi từng khoảnh khắc.

Vì chúng ta còn trẻ nên một ngày không cần phải quá bình yên. Vì chúng ta còn trẻ hãy cứ điên, nếu có sai chúng ta vẫn còn đủ thời gian làm lại mà... Tuổi thanh xuân giống như một cơn mưa rào. Dù cho bạn từng bị cảm lạnh vì tắm mưa, bạn vẫn muốn được đằm mình trong cơn mưa ấy lần nữa.

"Tôi tên là Giêsu của Têrêsa"

- Này em, em tên gì? - Thưa bà, vậy bà tên chi? - Tôi tên là Têrêsa của Chúa Giêsu. Cậu bé mỉm cười rất dễ thương tiếp lời: - Tôi, tôi tên là ... Giêsu của Têrêsa! Nói xong, cậu bé "Giêsu của Têrêsa" biến mất...

Thứ Hai, 4 tháng 1, 2016

Sao anh em lại ngủ?


Cầu nguyện xong, Người đứng lên, đến chỗ các môn đệ, thấy các ông đang ngủ vì buồn phiền, Người liền nói với các ông: "Sao anh em lại ngủ ? Dậy mà cầu nguyện, kẻo sa chước cám dỗ (Lc 22,45-46)

Đạo Chúa ở ngoài Bắc mang màu sắc lễ hội. Chầu lượt là ngày lễ lớn nhất trong năm của một xứ đạo. Tín hữu ở các xứ lân cận cũng kéo nhau về mừng lễ, có khi họ đến trước hai ba ngày, nhất là các chàng trai cô gái vì cưới vợ lấy chồng mà phải qua xứ khác. Thường thì lễ lạc khởi động vào thứ năm rồi lai rai đến Chúa nhật. Đêm thứ bảy kiệu Mình Thánh Chúa đi quanh làng. Trong năm còn nhiều ngày lễ nữa, rất dễ dàng biến thành "hội" như lễ quan thầy giáo xứ, thứ năm thứ sáu tuần thánh, Lễ Giáng Sinh ... Đã làm nhà thờ là phải có đường kiệu. Kiệu thì phải có trống trắc. Xứ nào khá giả thì có kèn tây. Người ta kháo nhau xứ này làm đẹp làm to hơn xứ nọ. Tôi thấy có người cho như thế là bề ngoài. Lúc đầu tôi cũng nghĩ như vậy thật, nhưng sau này, khi đã nhiễm cái bầu khí đánh trống thổi kèn tôi lại thấy hay. Ừ thì ta cứ lợi dụng cái bên ngoài rầm rộ để dẫn vào chiều sâu đạo giáo. Giáo dân ta đại đa số là dân nghèo bình dị, cần tình cảm. Họ đâu có phải là trí thức triết gia chỉ trông thấy cái vô hình trừu tượng. Họ không sống trên mây trên gió. Họ là những người đi chân không trên mặt đất này, được giáo dục bằng lòng tốt nhiều hơn là lời nói, bằng thái độ cư xử dễ thương hơn là lý luận tinh vi.


Sáng sớm tinh mơ, chuông đánh là cả xứ đạo đã ồn ào cả lên rồi. Cha mẹ ông bà thúc con cái dậy đi lễ, không có lễ thì đọc kinh. Ngày nào cũng ba giờ kinh sáng trưa tối. Con nít vào nhà thờ chỉ gật lên gật xuống cũng phải đi. Tất cả đã thành nếp, nhất là trong các họ đạo nhà quê sống tương đối khép kín với bên ngoài. Việc học giáo lý rầm rộ vào mùa hè, có thi cấp xứ, cấp hạt, cấp giáo phận. Có cả lớp bồi dưỡng gà nòi để thi đấu và cũng có đủ tình trạng phao phiếc, gian lận như thi cử ngoài đời ... Đa phần chỉ chú trọng nhồi nhét kiến thức, thiếu chiều sâu, nghiêng về một Thiên Chúa công thẳng lạnh lùng.

Qua cái lò đào tạo như thế, đại đa số các xứ đạo miền Bắc là những tập thể mạnh, nhưng tách cá nhân ra khỏi xứ đạo thì chưa chắc. Có một số vào Nam làm việc rồi đâm ra hư hỏng. Tình trạng trầm trọng đến độ có cha xứ cấm không cho con chiên vào Nam kiếm sống nữa, hoặc làm gì thì làm, đến mùa hè phải về học giáo lý, bằng không thì "quên đi" chuyện lấy vợ lấy chồng ! Mình cho rằng miền Nam mang tiếng oan, cần gì phải vào Nam, cũng chẳng cần phải ra tới Hà Nội, từ quê ra tỉnh thôi cũng đã thay đổi rồi. Mình gặp một số sinh viên từ miền quê ra Hà Nội học hành, hư cũng có mà chưa đến nỗi hư cũng có. Họ tìm đến mình khi cảm thấy như đã đánh mất niềm tin, cái niềm tin tưởng chừng có thể dời non lấp biển khi còn ở quê nhà. Họ vào một môi trường mới. Sáng ra không có ai kêu dậy đọc kinh xem lễ. Bạn bè toàn là dân ngoại. Thầy giáo thì bảo không có Chúa. Đương nhiên không phải ai cũng bị khủng hoảng lòng tin, nhưng qua giải tội mình thấy có kha khá sinh viên nam cũng như nữ lắm khi chỉ bận rộn chút thôi là có thể bỏ lễ Chúa nhật được rồi.

Thành phố đầy cạm bẫy. Chính các sinh viên nữ người Hà nội nói với mình rằng: chúng con có gia đình tại thành phố, nên bị cha mẹ cấm không cho đi chơi khuya. Còn các bạn ở quê chẳng có ai kiểm soát cả, thích đi đâu thì đi, muốn mấy giờ về thì về. Mình thấy rằng có ra khỏi lũy tre làng mới biết mối dây ràng buộc giữa một bạn trẻ với Chúa có chắc hay không. Mà sợi dây này chỉ được đan dệt bằng cầu nguyện. Nếu những lễ lạc rước xách kinh kệ ở làng quê chỉ là gượng ép chiếu lệ ham vui đối với một bạn trẻ thì ra thành phố có nghĩa là tháo cũi xổ lồng. Thường thì bạn ấy không còn cầu nguyện riêng tư nữa. Xưa nay nếu thích ai thì mình hay trò chuyện với người đó. Nhờ trò chuyện mà hiểu nhau, nên thân thiết và tin nhau. Thế mà không cầu nguyện thì làm sao mà tin mà yêu Chúa được. Không cầu nguyện thì cầm chắc là sẽ thấy khô khan và lòng tin sa sút.

Trong cả một lịch sử dài của dân Chúa, họ biết đến một Thiên Chúa mạnh mẽ kinh khiếp uy hùng, nhưng chứng nào vẫn tật nấy. Hình như biện pháp trừng phạt răn đe không mấy hiệu quả. Luật khắc trên đá như vậy chỉ áp dụng cho dân trước công nguyên, mà hiệu quả không được như ý lắm (giống như luật giao thông bây giờ, hay giống như cấm những người nghiện hút không được chơi heroin), Sau công nguyên thì luật phải được khắc trong tim. Răn đe vẫn còn đấy nhưng dành cho các tín hữu chưa trưởng thành. Lớn lên rồi thì chỉ có lòng yêu thương mới ràng buộc được người ta với Chúa. Vì muốn tạo mối dây yêu thương ấy mà Chúa Giêsu mới xuống thế làm người. Chỉ có dây yêu thương mới giữ nổi người ta lại với Chúa giữa thác lũ thế gian lôi cuốn. Mà không cầu nguyện, không trò chuyện với nhau thì làm gì có yêu thương.

Nếu đời tu của mình là theo "sát" Chúa Kitô thì cầu nguyện là lúc mình nhảy vào "ở trong" Ngài, là lúc tay mình thọc vào cạnh sườn đụng tới trái tim cho nó chảy ra dòng máu cứu độ. Nếu đời phục vụ của mình theo mẫu là Đức Kitô thì cầu nguyện là lúc mình đem so sánh xem bản copy với mẫu khác nhau chỗ nào. Nếu phục vụ phải có tiền, có sức khỏe, có trí thông minh thì cầu nguyện là lúc mình ở trong kho nhiên liệu, tha hồ đổ cho đầy mà chạy máy. Ngày xưa, Chúa Giêsu nói với các môn đệ ngài: "Cho đến rày, các con không xin gì nhân danh Thầy". Câu nói này có nghĩa là từ trước đến giờ các môn đệ khi cầu nguyện, xin xỏ điều này điều kia đều đứng "ở ngoài" Chúa Giêsu. Đứng ở ngoài là lẽ đương nhiên, vì các môn đệ có xẻ thịt Chúa Giêsu mà chui vào trong được đâu. Nhưng khi Chúa Giêsu phục sinh rồi thì khác. Không còn tường vách nào ngăn được Ngài, và ngược lại, ngay chính thân thể Ngài bây giờ là cái phòng ai chui vào cũng được. Ngài ở trong cả ngàn người rước lễ nhưng ai cũng có đầy đủ một Chúa Giêsu sống động trong mình chứ không phải chỉ có một miếng thịt. Và khi cầu nguyện ta có thể chui vào ngồi đâu đó trong 4 ngăn của trái tim Chúa ! Sau phục sinh mới có thể cầu nguyện "ở trong" Chúa Giêsu hay là "nhân danh" Chúa Giêsu như vậy được.

Nói đến cầu nguyện ở trong Chúa Giêsu mình lại nhớ nhà thờ, vì mọi người thường cầu nguyện ở trong nhà thờ. Trước Thượng hội đồng Dothái, Chúa Giêsu nói: "Phá đền thờ này đi, 3 ngày Ta sẽ dựng lại". Khi Chúa Giêsu nói như vậy, ta hiểu đền thờ là thân thể Chúa hay đền thờ làm bằng gạch đá cũng được. Cả hai đều đã bị phá hủy, cả hai đều đã lỗi thời. Nhà thờ mới đã được "dựng lại" chính là Đấng Phục Sinh, và bây giờ phải cầu nguyện trong đó mới là hợp thời, mới là chính đáng. Tác giả sách Khải Huyền viết: "Tôi không thấy có đền thờ, bởi vì đền thờ bây giờ là chính Chúa, Thiên Chúa toàn năng và Chiên Con, cũng không cần mặt trời mặt trăng chiếu sáng vì ánh sáng của nó bây giờ là vinh quang Thiên Chúa" (Kh 21,12). Mình còn nhớ câu chuyện ông Giacóp chiêm bao. Trên đường đi lẫn tránh Êsau, trong một giấc ngủ, Giacóp nằm mơ thấy một cái thang, chân thang dựng dưới đất nhưng đầu thang lại chạm tới trời, các thiên thần thì lên lên xuống xuống. Đức Chúa đứng ở đầu thang trên trời. Tỉnh giấc, Giacóp kinh hoàng nói: "Đây là nhà của Thiên Chúa, là cửa Trời". Ông đã dựng trụ đá làm dấu và đặt tên nơi ấy là "Bết Ên" nghĩa là Nhà Thiên Chúa. Trong Tin Mừng Gioan, Chúa Giêsu xác nhận chính Ngài là Bết Ên : "Quả thật. quả thật, Ta bảo các ngươi, các ngươi sẽ thấy Trời mở ra và các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người" (Ga 1,51).


Thuở xưa, vào ngày khánh thành đền thờ Giêrusalem, vua Salomon đã dâng một lời cầu nguyện tuyệt vời, lời cầu nguyện mà mỗi lần đọc nó mình đều cảm động, vì nó phải là lời cầu nguyện của mình là một tư tế van xin cho dân mình: "Xin nghe lời nài van của tôi tớ Ngài và của Israel dân Ngài dâng lên ở nơi đây ... Khi dân Ngài bị quân thù đánh bại, nếu họ cầu khẩn trong đền thờ này, thì từ trời xin Ngài lắng nghe ...Khi trong xứ có nạn đói, khi dịch bệnh, khi có thành nào đó của chúng con bị quân thù vây hãm, khi chỉ có một người hay cả toàn thể dân tộc chúng con giơ tay hướng về đền thờ này, xin Ngài đoái thương ... Ngay cả với ngoại kiều không thuộc về dân Ngài, nếu nó đến cầu nguyện trong đền thờ này, xin Ngài lắng nghe và thực hiện mọi điều kẻ ngoại kiều ấy kêu xin, để mọi dân trên mặt đất nhận biết Danh Ngài ... Khi dân Ngài xuất trận, họ giơ tay hướng về đây cầu nguyện, xin thương nhậm lời ... Khi dân Chúa xúc phạm đến Ngài, vì thật không người nào mà không phạm tội, khiến Ngài thịnh nộ trao họ vào tay thù địch. Khi kẻ chiến thắng đày dân Ngài biệt xứ, trên đất lưu đày họ giơ tay hướng về đền thờ xây kính Danh Ngài đây mà van xin thì xin Ngài thương xót, vì họ là dân, là gia nghiệp mà Ngài đã đưa ra khỏi lò nung sắt Aicập ..." Lời cầu nguyện xa xưa này của vua Salomon đã được Thiên Chúa nhậm lời, nhưng không phải là nhậm lời cho cái đền thờ của ông xây, Thiên Chúa đã bình địa nó rồi. Phải là đền thờ do chính tay Thiên Chúa xây mới được. Chúa Giêsu là đền thờ mới, là Đền Thờ mà nơi đó Thiên Chúa chuẩn y lời cầu nguyện hay tuyệt của nhà vua. Vì thế, Chúa Giêsu mới bảo rằng: "Chúa Cha sẽ ban cho chúng con mọi điều chúng con xin nhân danh Thầy" (Ga 15,20) nghĩa là Chúa Cha sẽ ban cho chúng con mọi điều chúng con xin khi chúng con "ở trong" Thầy, ở trong Đền Thờ mới. Vì thế, lời cầu nguyện nhân danh Chúa Giêsu chắc chắn được chấp nhận. Có thể Thiên Chúa sẽ ban cho mình cái tốt hơn cái mình xin, vì Thiên Chúa yêu mình thật. "Ở trong" tức là nên một với Chúa Giêsu thì hẳn là Chúa Cha phải đồng ý, vì nếu không thì Cha và Con không còn phải là một.

Biết rồi ! Nhưng bây giờ làm sao mình có thể chui vào thân mình Chúa Giêsu để cầu nguyện được ? Mình thắc mắc sao giống ông Nicôđêmô quá. Được chứ, Chúa Thánh Thần sẽ làm giúp mình chuyện đó. Người đã thành công đưa Chúa Giêsu vào đặt trong dạ Đức Mẹ kia mà. Ngôi Hai Thiên Chúa vĩ đại cả vũ trụ này không chứa nổi mà Chúa Thánh Thần còn đặt trong bụng Đức Mẹ được, cái bụng mà 9 tháng 10 ngày chỉ mới bằng cái nồi cơm điện chứ mấy. Không có gì Chúa Thánh Thần không làm được. Vậy Chúa Thánh Thần chính là Đấng đưa mình vào cầu nguyện thật. Thánh Phaolô là chuyên gia nhờ vả Chúa Thánh Thần làm chuyện này cho nên ngài đã chia sẻ kinh nghiệm: "Thần Khí đỡ đần tình cảnh yếu hèn của ta. Vì cầu xin thế nào cho phải ta nào có biết. Song chính Thần Khí chuyển cầu cho ta bằng những tiếng rên khôn tả" (Rm 8,26).

Cầu nguyện thì ai mà chẳng cầu. Vô thần ở đâu chứ vô thần Việt Nam mùng một ngày rằm vẫn khói hương nghi ngút. Dòng mình là dòng đi chơi với dân nghèo, vì thế đã có lúc mình để ý xem họ cầu nguyện thế nào để bắt chước. Mình hay đến Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Hà Nội, nơi tập trung đầy dân nghèo đến hành hương vào thứ bảy đầu tháng. Họ là dân quê có khi ở thật xa Hà Nội, họ là các anh xe ôm, các chị đi mua ve chai sắt vụn mà ở miền Bắc gọi là các chị đồng nát, họ là sinh viên từ miền quê ra trọ học ... Có lẽ 90% đến đây là để xin ơn, 10% còn lại đến để tạ ơn và xin tiếp ! Ca tụng, ngợi khen thật là điều phải làm đấy nhưng hình như người nghèo không quan tâm lắm. Chúa vốn là Đấng khiêm nhường cho nên nếu ca tụng vô tội vạ, lộ liễu như thế e có vẻ "bợ đỡ" quá chăng ? Hình như cái chuyện Chúa là Đấng cao vời khôn ví, có toàn quyền sinh sát trong tay, còn họ là hạng muỗi mòng bọ chét là cái chuyện đương nhiên, cả con người, cả cuộc sống của họ đã nói lên rồi, khỏi cần phải bàn tới nữa. Có lẽ họ khổ quá nên cái thúc bách sát sườn là xin, và xin một cách "sống sượng" không cần nhập đề kết luận gì ráo. Họ xin mà không cần biết có lý hay không có lý, không cần biết Chúa có đủ "tiền" cho hay không, và cũng bất biết đến chuyện Chúa cho mình thì người khác coi như tiêu tùng. Mình cũng học được vài chiêu cầu nguyện "Trời ơi" đó, bây giờ đã đạt đến mức chỉ có đọc kinh phụng vụ mới mở miệng ca tụng Chúa, còn cầu nguyện riêng thì chỉ có xin và xin, có khi vừa bước chân vào nhà nguyện là xin mà chưa kịp làm dấu. Chẳng biết như thế thì Chúa ưng hay không ưng cái bụng.

Các cha giáo vẫn dạy mình khi giúp đỡ người nghèo thì đừng có ra oai, khi chăm sóc họ thì đừng như bà lớn. Mình nghĩ rằng khi cầu nguyện cho họ mình cũng đừng như ông lớn. Không phải là cầu nguyện cho nhưng là cầu nguyện với. Lời cầu nguyện của một giáo hoàng không chắc có giá trị trước mặt Chúa bằng lời cầu nguyện của một kẻ tội lỗi, vì khi giáo hoàng cầu nguyện thì thiên đàng im re, còn kẻ tội lỗi cầu nguyện thì ran lên cả triều thần thánh. Nhưng nếu giáo hoàng cùng cầu nguyện với người tội lỗi thì gây ra sự cộng hưởng làm rung rinh chín cõi thiên đàng. Ai đọc những hàng này chắc bảo mình ba sạo. Ừ thì nói phét cũng được, nhưng xin hãy nhìn Chúa Giê-su đi, Thiên Chúa đã làm cho Con Một mình thành một tội nhân không ai có thể nặng tội hơn được, vì tội cả trần gian này chất vào đó. Như vậy rõ ràng là có một Ngôi Hai đứng trên nóc nhà trời nhập chung với một tội nhân nằm dưới đáy vực sâu thăm thẳm, cả hai cùng dâng lên lời cầu nguyện thì phát sinh Hồng Ân Cứu Độ. Ơn cứu độ ấy làm rung rinh 999 cõi thiên đàng !

Có nhiều người nghĩ rằng Thiên Chúa yêu thương, Thiên Chúa biết hết, cần gì phải cầu xin, mọi sự Chúa sẽ lo liệu tất, ta chỉ cần tạ ơn, ca tụng, ngợi khen là đủ. Mình nghĩ chắc họ đang sống ở thiên đàng, vì chỉ có ở thiên đàng mới suốt ngày đêm ca tụng tạ ơn Chúa. Thôi hãy để họ sống trên mây, còn mình thì đang "ở nơi khóc lóc than thở kêu khẩn Bà thương", đang bơi lè lưỡi trong cái bể khổ này. Chúa Giêsu có kể chuyện ông thẩm phán ác ôn và bà góa dai như giẻ rách. Nhìn thấy những người nghèo cầu nguyện mà không thấy hồi âm, mình không dám bảo Chúa là ông thẩm phán ác ôn nhưng xin Chúa cho họ và cho mình nữa, lì mặt như bà góa không còn gì để mất ấy.

Khi còn ở trần gian này Chúa Giêsu cũng thường xuyên xin, xin Chúa ban ơn đã đành có khi còn xin người ta gíup đỡ nữa: xin nước người phụ nữ Samari, xin cơm ông Giakêu ... Khi gặp cảnh đau khổ cùng cực, Ngài cũng "lớn tiếng kêu van cùng nước mắt" như mọi người nghèo. Hầu hết những lời cầu nguyện của Chúa Giêsu được ghi lại trong Tin Mừng đều là những lời xin. Thánh Luca có 3 dụ ngôn về cầu nguyện: người bạn quấy rầy, biệt phái và thu thế, ông thẩm phán ác ôn và bà góa, thì cả đều nói về xin. Riêng dụ ngôn ông thẩm phán và bà góa đã mở đầu thế này: Ngài kể cho họ một dụ ngôn để bảo họ phải cầu nguyện luôn không bao giờ được dứt. Như vậy có nghĩa là Chúa bảo họ phải giống như bà góa kia, xin xỏ triền miên không chấm dứt. Chúa Giêsu đi giảng 3 năm chỉ dạy cho người ta một kinh duy nhất. Kinh Lạy Cha toàn là xin, tất tần tật từ đầu đến cuối. Câu kết thúc của kinh thánh là lời xin Maranatha, lời ấy như muốn nói rằng từ bây giờ cho đến tận thế sẽ vang vọng mãi một lời xin. 


Thân phận con người vốn yếu đuối, đi xưng tội lần nào cũng có những tội bỏ hoài không bỏ được: ngoại tình, quan hệ trước hôn nhân, đánh bài. chích hút ...Đứng lên ngã xuống bao nhiêu lần mới nghiệm ra một điều là mình vô phương chống cự, mà chỉ còn cách cầu xin Chúa ra tay cứu giúp. Sức con người không thể chừa được nhưng có gì là không được đối với Thiên Chúa ? Khi mình khiêm tốn nài xin, mình sống đúng cái phận ngjhèo, đúng phận tội nhân, đúng thân phận lữ khách đang mãi miết về quê. Đôi khi mình quên mất Thiên Chúa là Đấng thích ban tặng, vì thế xin là bác ái với Chúa. Nếu chỉ có ca tụng, ngợi khen, cầu nguyện vô vị lợi mà thôi thì Chúa sẽ mất công ăn việc làm.

Mình cũng gặp nhiều nàng đệ tử dòng tu áy náy khổ tâm vì không giữ được lời hứa với Chúa mỗi ngày cầu nguyện một giờ. Mình bảo: sao không bớt xuống còn 10 phút thôi cho dễ giữ. 10 phút cũng được nhưng phải trung thành, đó mới là điều quý giá. Khi thằng quỷ đánh đu trên mi mắt mà vẫn trung thành thì mới thật là hay. Sống đời tu hay đôi bạn đều phải trung thành cho đến chết, vậy hãy tập trung thành với 10 phút cầu nguyện mỗi ngày đi.

Nhiều chàng đệ tử hỏi mình phương pháp cầu nguyện. Mình hỏi lại: thế thì về nhà, em nói chuyện với bố có phương pháp không ? Hẳn là không. Nếu bố mình mà biết mình nói chuyện với ông có phương pháp đàng hoàng chắc ông cười no bụng, hoặc ông sẽ nẹt cho: "Với bố mày mà mày cũng đóng kịch à !" Thú thật, mình trò chuyện với Chúa có theo phương pháp nào đâu, đứng ngồi nằm quỳ Chúa đều OK cả, không thấy Chúa phản đối gì. Các cha giáo mắng thì con xin chịu, đọc sách dạy phương pháp cầu nguyện oải lắm ! Có phương pháp chăng đó là: nói một mình hoài cũng chán, cầu nguyện thì cả hai phải nói chứ, mình nghe Chúa nói bằng cách đọc Kinh Thánh, đọc từ đầu đến cuối, sách này sách kia, tắt một lời, đọc chỗ nào cũng được, thế thôi.

Ngày xưa, khi ông Môsê ở trên núi Sinai xuống, dân chúng không dám nhìn mặt ông, vì mặt ông sáng quá. Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Vì ở gần Thiên Chúa nên mặt ông Môsê mới thay đổi như thế. Anh hay chị nào muốn có khuôn mặt vừa đẹp vừa thánh thiện, xin hãy cầu nguyện, chẳng cần đi bác sĩ thẫm mỹ đâu.

Luật độc thân linh mục



Thứ bảy 18-2, Niên Giám 2006 của Tòa Thánh được Đức Hồng Y Angelo Sodano - Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh - trình lên Đức Thánh Cha Biển-Đức 16.

Theo Niên Giám 2006, số Linh Mục trong Giáo Hội Công Giáo tiếp tục gia tăng. Tính đến cuối năm 2004 có 405.891 Linh mục: 1 phần 3 là Linh Mục dòng và 2 phần 3 là Linh Mục giáo phận.

Số phó tế vĩnh viễn liên tục gia tăng từ 25 năm nay. Trong năm 2004, Giáo Hội Công Giáo có hơn 32.300 thầy. Sự gia tăng mạnh nhất tại Bắc Mỹ với 47,3% và Âu Châu 32,3%.

Số ứng sinh Linh Mục cũng gia tăng. Năm 2004, Giáo Hội Công Giáo có 113.044 chủng sinh triều và dòng.

Trước đó, có người cho rằng sở dĩ con số Linh Mục giảm sút vì lý do luật độc thân quá khe khắt của Giáo Hội Công Giáo. Đó cũng là luận cứ của đức cha Jacques Gaillot, vị giám mục cấp tiến của Giáo Hội Công Giáo Pháp.

Nhưng các tín hữu giáo dân nghĩ khác. Chính họ vừa hiểu rõ cái khó khăn cuộc sống độc thân Linh Mục vừa tha thiết với lý tưởng độc thân. Sau đây là chứng từ của bà Francoise Lucrot, giáo dân Pháp. Bà viết:

Để tránh khủng hoảng ơn gọi Linh Mục, không phải dẹp bỏ luật độc thân. Trái lại, phải tạo bầu khí thuận lợi giúp các Linh Mục trung thành với ơn gọi độc thân. Làm Linh Mục không giống bất cứ nghề nghiệp nào. Ơn gọi Linh Mục trước tiên đến từ THIÊN CHÚA, và khi đáp lại ơn gọi này, là đáp lời mời gọi trở thành Linh Mục của Ngài.. Cộng đoàn dân Chúa tha thiết với đời sống độc thân của các Linh Mục. Họ cảm thấy đau đớn khi nhìn thấy các Linh Mục bỏ rơi nếp sống độc thân để lập gia đình, lấy vợ. Đối với tín hữu giáo dân, sự bất trung của các Linh Mục thường gắn liền với việc các Linh Mục đánh mất Đức Tin trong đời sống.

Khi nhìn sang các Giáo Hội Kitô khác như Tin Lành, Anh Giáo và Chính Thống, trong đó các mục sư và linh mục được phép lập gia đình, người ta nhận ra bao vấn đề nhiêu-khê, đặc biệt là chỗ đứng của các bà, hiền thê của các vị mục sư! Nhiều bà tranh đấu cho chồng được địa vị cao. Có bà không muốn theo chồng về làm việc mục vụ tại các vùng quê hẻo lánh, vì muốn ở lại thành phố để tiếp tục sự nghiệp của các bà!

Với tất cả khó-khăn cản-trở ”vô ích” trên đây, người ta thấy rằng, Giáo Hội Công Giáo quả thật có lý khi cương quyết bảo vệ luật độc thân Linh Mục! Giáo Hội không ngừng lập lại giáo huấn về luật độc thân Linh Mục cũng y như Giáo Hội luôn luôn nhắc nhở các đôi vợ chồng phải sống trung tín cho đến hơi thở cuối cùng, vì tính chất thánh thiêng của hôn nhân vậy.

Trước các đe dọa cuộc sống độc thân Linh Mục, hơn bao giờ hết, chúng ta - tín hữu giáo dân - phải làm hết sức để nâng đỡ các Linh Mục bằng tình thương huynh đệ của chúng ta. Hãy làm cho các ngài cảm nhận được rằng chúng ta cảm thông với các ngài và các ngài thật cần thiết cho cuộc sống thiêng liêng của chúng ta, y như không khí cần cho cuộc sống con người vậy! Chúng ta ghi nhớ rằng:

- Linh Mục là Đức Chúa GIÊSU KITÔ hiện diện giữa chúng ta.

Chúng ta hãy tỏ lòng ghi ơn trước sự trung-thành, trước sự kiên-vững trong ơn gọi độc thân của các Linh Mục. Hãy mời các ngài đến dùng bữa chung với gia đình chúng ta. Hãy trìu mến vui vẻ tiếp đón các ngài. Đừng để các ngài quá cô đơn. Hãy nâng đỡ ủi an các ngài, chắc chắn các ngài sẽ tri ân chúng ta và THIÊN CHÚA sẽ trả công cho chúng ta cách bội hậu. Thảm kịch đe dọa các Linh Mục ngày nay, không phải nếp sống độc thân cho bằng nếp sống cô đơn của các ngài. Bổn phận chúng ta - tín hữu giáo dân - là yêu thương chăm sóc và nâng đỡ các ngài, bằng tình thương thảo hiếu của chúng ta.

... Đừng phó mặc hồn con cho một người đàn bà, kẻo bị nó đè đầu đè cổ. Đừng đón đường một gái làng chơi, kẻo con rơi vào bẫy của nó. Đừng đi lại với một ả-đào, kẻo con mắc phải mưu mô của nó. Đừng chòng chọc nhìn cô trinh nữ, kẻo con sa ngã mà bị phạt với nàng. Đừng trao thân cho đĩ-điếm, kẻo con phải khuynh gia bại sản. Ngoài đường phố, mắt đừng láo liên, trong ngõ hẽm, chớ có la cà. Hãy tránh đừng nhìn phụ nữ nhan sắc, cũng đừng ngắm nghía một giai nhân xa lạ. Vì sắc đẹp đàn bà mà bao kẻ đảo điên, cũng vì thế mà ái tình bừng lên như lửa. Chớ ngồi bên phụ nữ có chồng, đừng uống rượu với nàng trong các bữa tiệc, kẻo vì nàng mà lòng con nghiêng ngửa, và tâm thần chao đảo tiêu vong (Huấn Ca 9, 2-9).

Ý nghĩa độc thân Công Giáo



Chị Annette thân mến.

Hôm qua, nơi chỗ làm việc, chị bất ngờ hỏi tại sao tôi chọn nếp sống độc thân. Bầu khí ồn ào không cho phép tôi trả lời đầy đủ về một vấn đề nghiêm trang như vậy. Có thể đây là vấn đề vượt ngoài ý tưởng của chị! Bởi lẽ chị thấy tôi là người bình thường như bao đàn ông khác. Ngoài ra tôi còn nhã-nhặn và tế-nhị khi cư xử với phụ nữ, đồng thời biết chiêm ngắm nét đẹp của nữ giới. Vậy tại sao tôi lại chọn nếp sống độc thân ? Chị thắc mắc như thế. Tôi cố gắng giải thích, nhưng không chắc chị hiểu được không. Bởi vì, để hiểu rõ nếp sống độc thân của tôi, chị cần phải chia sẻ cùng một niềm tin Công Giáo như tôi. Đối với tôi, độc thân không phải là một thiếu sót. Cũng không phải là một ích kỷ, chỉ sống cho riêng mình. Trái lại là đàng khác.

Tôi xin nói ngay lý do nào thúc đẩy tôi chọn lối sống độc thân. Đó là vì một khuôn mặt đã thu hút tôi. Khuôn mặt này trổi vượt trên mọi khuôn mặt thanh thiếu nữ mà tôi hân hạnh được gặp và quen biết trong cuộc đời. Đó là khuôn mặt của Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Đối với tôi, Đức Chúa GIÊSU KITÔ là Khuôn Mặt của THIÊN CHÚA Cha nơi trần gian. Ngài chiếm đoạt tôi và tôi say mê Ngài. Tôi đi theo Ngài cho đến ngày hôm nay và sẽ mãi mãi theo Ngài cho đến giây phút cuối đời. Vì Ngài mà tôi từ bỏ tất cả. Xin chị tin lời tôi và đừng đùa cợt đối với một vấn đề mang tầm mức siêu việt ..

Dĩ nhiên tôi chưa từng thấy Ngài cũng chưa nghe tiếng Ngài. Và những biểu lộ trìu mến của Ngài thường rất hiếm hoi. Phải nói Ngài là người bạn đường rất dè dặt và ít nói. Nhưng tôi chắc chắn Ngài yêu tôi, như thể chỉ có mình tôi trên cõi đời này. Đôi lúc trong cuộc sống, tôi cảm nghiệm được tình yêu này. Và những lúc đó hồn tôi hân hoan vui sướng như sống tuần trăng mật.

Hôm qua chị hơi đi quá vào đời tư của tôi. Tuy nhiên tôi không chấp chị về điểm này. Trái lại tôi xin thẳng thắn trả lời cho chị rõ. Tôi có thể thú nhận với chị là tôi đã từng cảm nghiệm thế nào là tình yêu nam nữ. Do đó tôi có thể quả quyết với chị rằng, nếu tôi chưa kinh nghiệm thế nào là tình yêu nam nữ, thì có lẽ là tôi là một người đàn ông không bình thường..

Cuộc đời đưa đẩy khiến tôi có nhiều dịp tiếp xúc với nữ giới, gần gũi thân mật với họ và làm việc chung với họ, nơi xưởng làm hoặc qua các công tác bác ái tông đồ. Nhiều phụ nữ cùng nhóm thiện nguyện với tôi, cũng chia sẻ nếp sống độc thân như tôi. Họ chọn lựa sống độc thân vì tình yêu dành riêng cho Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Trong số các phụ nữ tận hiến cho Chúa, tôi quen biết đặc biệt một cô. Chúng tôi rất hợp tính hợp ý và trao đổi cho nhau một tình bạn chân thành, giống như tình bạn giữa chị và tôi hôm nay vậy.

Theo giòng thời gian tình bạn lớn mạnh, yêu thương hơn, trìu mến hơn. Và giả như không có lời đoan hứa giữ mình trinh khiết, hẳn chúng tôi đi đến hôn nhân rồi. Nhưng cả hai chúng tôi đều không dừng lại ở tình yêu nam nữ ấy, vì chúng tôi không muốn phản bội Đức Chúa GIÊSU KITÔ, Đấng mà mỗi người chúng tôi tự ý chọn lựa như là hiền-phu hiền-thê duy nhất của lòng mình. Dĩ nhiên quyết định trung tín với lời hứa độc thân không phải dễ. Chúng tôi đã phải trả bằng nước mắt và bằng con tim rướm máu! Nói thế để chị hiểu rằng tôi không phải là thiên thần, cũng không phải là vị anh hùng. Trái tim tôi cũng bằng thịt y như trái tim chị. Và THIÊN CHÚA là Tình Yêu hiểu rõ chúng ta hơn bất cứ ai trên trần gian.

Tôi ước mong tình bạn giữa chúng ta ngừng lại nơi tình anh em, để chị không phạm tội phản bội chồng và tôi không phạm tội phản bội Đức Chúa GIÊSU KITÔ, Người Tình Chí Thánh của tôi. Tôi cũng xin tâm sự với chị là, sức mạnh giúp tôi trung tín với Chúa cho đến ngày hôm nay, chính là sức mạnh tôi kín múc nơi Bí Tích Thánh Thể mỗi ngày, trong cuộc đời tôi.

Ký tên, Pierre.

(Charles Lepetit, ”MES AMIS LES PAUVRES”, Nouvelle Cité, Paris 1984, trang 178-181)

Như ngọn nến tiêu hao



Bạn cảm giác thế nào khi bỗng dưng một ngày đẹp trời nọ người mình yêu lại… đi tu? Bạn cảm giác thế nào khi bỗng dưng, cũng một ngày đẹp trời khác, bạn phát hiện ra rằng kẻ làm con tim mình đập lỗi nhịp lại chính là một tu sĩ… Phải chăng là tai họa?…

1.
Đọc xong kinh tạ ơn sau thánh lễ, Minh cúi đầu chào Chúa trên bức tượng chịu nạn, rồi nhẹ nhàng ra khỏi phòng thánh. Tâm hồn chàng lâng lâng trong niềm bình an sâu lắng sau khi dâng một thánh lễ sốt sắng. Chàng đang sống những ngày tháng đẹp nhất đời người, sau một tuần được làm linh mục của Chúa.
Đang muốn tìm gặp cha xứ để nói vài lời cám ơn vì đã mời mình về đây dâng lễ, Minh dừng chân trên bục cửa, dõi mắt nhìn ra khoảng sân nhỏ bên hông nhà thờ. Gió chiều nhè nhẹ mơn man mái tóc bồng bềnh nghệ sĩ của vị linh mục trẻ. Sân nhà thờ cuối chiều ngập nắng. Giàn hoa giấy đỏ rực rỡ dọc hai bên lối đi. Bên giàn hoa, một cô bé khoảng bốn năm tuổi với chiếc váy đầm màu xanh da trời đang tung tăng đuổi theo chú bướm vàng. Chú bướm chập chờn bay lên lượn xuống. Cô bé mê mải, cho đến khi đâm sầm vào người Minh.
– A ! ông cố ! con xin lỗi ông cố !…
Minh mỉm cười thân thiện trước vẽ bối rối của cô bé. Chàng cũng mỉm cười vì lần đầu tiên trong đời được nghe gọi là ông cố. ‘Ông cố’ dịu dàng cúi xuống trên cô bé:
– Ừ ! ông cố chào con ! con tên là gì ?
– Dạ, con tên là Minh Anh, con là con của mẹ Trúc Thanh và bố Dương Bình.
Cô bé vừa trả lời, vừa ngước lên nhìn ông cố. Trên khuôn mặt trái xoan thánh thiện là đôi mắt trong veo. Chạm vào đôi mắt ấy, Minh bỗng thoáng giật mình. Trong đôi mắt bé Minh Anh có nét gì đó thật thân quen gần gũi. Chàng lặp lại:
– Con là bé Minh Anh, con của mẹ Trúc Thanh…
Trúc Thanh, phải rồi, cái tên ấy, đôi mắt ấy !..
———- o0o ———-
2.
Trúc Thanh không được sinh ra trong một gia đình công giáo. Cả dòng họ của nàng đều là người bên lương. Hồi nhỏ, nhà thờ là cả một thế giới bí ẩn và lạ xa đối với nàng. Lớn lên một chút, đến tuổi biết mơ mộng, nhà thờ bỗng hấp dẫn nàng hơn. Xem phim, nàng thấy những đám cưới được tổ chức trong nhà thờ thật đẹp và trang trọng. Nàng mơ một ngày được làm cô dâu xúng xính trong chiếc áo đầm trắng muốt, được tay trong tay với một chú rể đẹp trai, họ cùng dìu nhau bước vào lòng nhà thờ ngập đầy hoa và nến, khi ca đoàn trổi khúc thánh ca du dương… Ở cái tuổi mộng mơ, Trúc Thanh đã nhiều lần để cho trí tưởng tượng bay bổng vẽ nên chân dung chú rể lý tưởng của lòng mình.
Tưởng rằng nàng đã gặp được giấc mơ ấy ở năm thứ hai đại học. Bước vào thời sinh viên, Trúc Thanh trở thành đích nhắm của nhiều chàng trai, nhờ khuôn mặt trái xoan thanh cao và giọng ca ngọt ngào. Đến hết năm thứ nhất, Trúc Thanh chẳng tìm được khuôn mặt của chàng rể mà nàng đã mơ… cho đến lúc Minh xuất hiện.
Minh học trên Trúc Thanh hai lớp. Chàng xuất hiện như một diễn viên phụ trong dàn nhạc của trường, lặng lẽ đệm đàn cho Trúc Thanh hát trong những buổi văn nghệ. Cho đến một hôm, để lấp vào một tiết mục bị hủy, diễn viên phụ phải bước ra ánh đèn sân khấu. Với phong cách đệm guitar nhẹ nhàng mang hồn cổ điển, giọng ca trầm ấm, mái tóc nghệ sĩ ngông ngông… Minh đã làm rung động con tim của Trúc Thanh ngay từ buổi đầu giáp mặt.
Trúc Thanh hạnh phúc khi biết Minh là người có đạo. Nàng tin đây là người mà Trời đã định sẵn để lấp đầy mơ ước trong lòng mình. Những lần cùng Minh bước vào ngôi thánh đường tham dự thánh lễ ban chiều, dù chưa hiểu gì về những nghi thức đang diễn ra quanh mình, Trúc Thanh vẫn thấy tâm hồn mình bình an lạ lắm. Nàng càng ngạc nhiên hơn nữa khi chứng kiến một người vững vàng như Minh mà cũng biết quỳ gối và gục đầu cầu nguyện. Nàng không hiểu được những gì đang diễn ra trong lòng Minh, nhưng nàng có thể đọc được phần nào chiều sâu thẳm trong tâm hồn chàng qua đôi mắt kính cẩn đang đăm đăm nhìn lên bàn thờ Chúa.
Qua những chăm sóc âm thầm nhưng chu đáo của Minh, nàng biết càng ngày mình càng đi gần đến ước nguyện.
3.
Sau ba tháng hè, Minh xuất hiện trước mặt Trúc Thanh, lặng lẽ. Sau ba tháng chờ đợi trong nỗi nhớ cồn cào, có biết bao điều muốn nói, thế mà Trúc Thanh như thấy có gì đó hụt hẫng. Minh ngồi trước mặt nàng, chỉ lặng lẽ. Đôi mắt chàng như đang ở một chốn xa xăm nào đấy. Chàng như đã trở thành một con người khác. Mái tóc nghệ sĩ ngông nghênh đã được cắt gọn. Chiếc áo pull bụi bặm được thay bằng chiếc sơ mi trắng tinh lịch sự… Trúc Thanh đoán rằng có lẽ đã có điều gì đó thay đổi thật ghê ghớm trong tâm hồn Minh. Nàng mơ hồ linh cảm rằng thay đổi ấy sẽ đưa Minh ra khỏi cuộc đời nàng. Chàng ngồi đó, gần thật gần, mà như xa diệu vợi.
Mùa hè năm ấy Minh quyết định đi tháng tình nguyện. Chàng muốn tìm kiếm kinh nghiệm mới trong mùa hè cuối cùng của đời sinh viên. Bởi chàng biết, một khi đã ra trường, bị cuốn vào công việc và tiền bạc, chắc khó còn có cơ hội để chàng làm những việc thiện nguyện đầy ý nghĩa.
Minh về dạy học ở một tỉnh vùng sâu cho những đứa trẻ không có cơ hội đến trường. Đó là một làng quê nghèo. Trẻ con ở đấy quen với việc chạy nhảy ngoài đồng hơn là phải ngồi bó gối một chỗ trong lớp học. Để có thể được làm thầy giáo, những ngày đầu Minh cũng phải ra đồng chạy nhảy với đám nhóc, cũng cũng leo cầu nhảy sông, cũng chèo xuồng chống vỏ… Sau một tuần, Minh gom được một đám nhóc quanh khoảng sân của ngôi chùa nhỏ nằm bên mép làng. Trong cái không gian lặng lẽ ấy, Minh bắt đầu gieo những con chữ đầu tiên vào đầu bọn nhóc.
Chỉ cách có một con mương nhỏ, nhưng ngôi chùa hầu như tách biệt với cuộc sống đang nhộn nhịp trong làng. Sân chùa buổi chiều ngập đầy lá rụng. Gió chiều xào xạc về trên những tán bồ đề rợp bóng.
Theo như người ta kể, khuôn viên nhà chùa trước đây là mảnh đất thuộc về một phú ông trong làng. Sư trụ trì trước đây vốn là cậu út trong gia đình phú ông. Cậu đem lòng yêu thương một cô gái nghèo trong làng, bất chấp sự cấm cản của gia đình. Chẳng biết gia đình đã dàn xếp thế nào mà sau một đêm, cả gia đình cô gái đột nhiên biến mất. Cô gái ra đi với đứa con đang thành hình trong bụng. Từ dạo ấy cậu út chuyển vào ở trong mảnh đất nhỏ bên mép làng. Một ngôi chùa nhỏ mọc lên. Lặng lẽ và bình yên.
Nhưng cuộc sống trong làng thì không bình yên được như ngôi chùa nhỏ. Cả làng vẫn còn nghèo, nhưng những ảnh hưởng của văn minh đã đi trước và đập lên cuộc sống bình yên của cả làng… Hoa quả của nó là những đứa trẻ còn đỏ hỏn lâu lâu lại bị bỏ rơi trước cổng chùa. Nhà chùa bỗng nhiên thành viện mồ côi.
…Một cách vô tình, lớp học của Minh trở nên nơi gặp gỡ cho những đứa trẻ trong làng và những đứa trẻ mồ côi trong chùa. Được vào chùa, bọn trẻ con trong làng thích chí vì được chạy chơi thỏa thích sau mỗi giờ học. Những đứa trẻ mồ côi trong chùa thì mừng rỡ hơn vì có thêm bạn mới. Sân chùa đầy ắp tiếng cười.
Kết thúc hai tháng tình nguyện. Chia tay ngôi làng nhỏ. Mấy đứa trẻ ôm Minh mà khóc: “Thầy đừng đi Thầy ơi, ở lại đi Thầy ơi, ở lại là bố của tụi con. Ở đây đứa nào cũng có bố chỉ có tụi con là không. Tụi nó tụi gọi con là mấy đứa con hoang…”
Chia tay ngôi làng nhỏ. Đó là lần đầu tiên trong đời Minh khóc trước mặt người khác. Trên chuyến xe về lại thành phố, lời của sư trụ trì vẫn còn vang vọng trong Minh: “Hy sinh một cuộc đời để nhiều cuộc đời khác được sống, điều đó đáng lắm chứ, thí chủ!”

4.
Chia tay. Họ chia tay bình thường như bao cuộc chia tay khác. Minh ra trường, tìm một khởi đầu mới trên con đường vừa nhen nhóm giữa lòng mình. Trúc Thanh ở lại tiếp tục việc học hành trong những ngày tháng vô vị.
Trúc Thanh không dám khóc vì sợ làm bận lòng Minh. Nàng biết Minh đã quyết. Nàng không hiểu tại sao Minh lại chọn con đường ấy, nhưng nàng lại tin Minh chẳng bao giờ chọn lựa sai.
Trước lúc chia tay, Minh tặng Trúc Thanh một cây nến nhỏ. Minh nói cây nến này người ta hay dùng để đốt trong nhà thờ, nhất là vào những đêm kinh nguyện. Giữa thế giới văn minh này, nến không còn cần thiết cho cuộc sống, nhưng nến vẫn thật cần thiết cho tâm hồn. Minh dặn nàng khi nào quá mệt mỏi với cuộc sống bề bộn, khi nào thấy tâm hồn mình quá lạnh lẽo, khi nào thấy cần có một người để tâm sự, hãy đốt nến lên. Và lặng lẽ.
Cây nến nhỏ vẫn còn nằm một góc trong ngăn bàn làm việc của Trúc Thanh. Ngọn nến cho lòng Trúc Thanh nhiều ấm áp và bình an. Nhưng ngọn nến chỉ được đốt lên mới có một lần. Nàng không đủ can đảm nhìn những vệt chảy loang lỗ trên thân nến. Nàng không đủ can đảm nhìn thân nến cứ tiêu hao dần dần mỗi khi được đốt lên. Nàng tự hứa với lòng sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, để không bao giờ phải đốt nến nữa…
Trúc Thanh xin học đạo. Không còn phải để được làm cô dâu xúng xính. Nàng muốn tìm hiểu con đường mà Minh đang đi. Lạ lùng thay, càng tìm hiểu nàng càng cảm thấy con đường ấy quá xa với mình. Nàng không hiểu, nhưng càng ngày nàng càng chấp nhận hơn. Nàng tin Chúa có sự sắp xếp của Chúa. Nàng tin rằng với sự sắp xếp ấy nàng gặp được Dương Bình, nàng có bé Minh Anh, nàng có một mái gia đình đầm ấm.
5.
Tan lễ chiều, Trúc Thanh về nhà trong tâm trạng thật lạ. Vậy là chàng đã về, đã trung thành với chọn lựa của mình, đã hoàn toàn thuộc trọn về Chúa. Mừng cho chàng… Nhưng sao tâm trạng của nàng lạ quá. Dường như có một chút gì đó chợt nhói lên trong nàng. Phải chăng là khoảng trời mơ tưởng đã ngủ yên chợt cựa mình thức giấc? Phải chăng là một chút hy vọng vô lý nhưng dai dẳng trong nàng vừa vụt tắt? Phải chăng nàng mang cảm giác tiếc nuối của cái thời còn là một cô bé vụng dại, khi lỡ tay để cho chiếc bong bóng vụt bay về trời?
Đêm. Trúc Thanh một mình ngồi lặng lẽ trong căn phòng. Tiếng gió ngoài hiên xào xạc. Đêm ngập tràn bóng tối.
Nàng hiểu tại sao Minh lại tặng nàng cây nến nhỏ. Cuộc đời chàng giống như một cây nến. Cây nến phải được đốt lên, phải tiêu hao đi, để cuộc đời đầy bóng tối này được thêm một chút ánh sáng. Nàng nghĩ đến ngọn nến lặng lẽ bên nhà chầu trong đêm mưa bão. Nến cho người ta biết đường mà tìm về…
Đêm ấy có một người lặng lẽ đốt nến giữa căn phòng lung linh ấm áp.
những ngày cuối năm 2008

Chủng Viện là trường dạy sự thật cho Chủng Sinh



Đầu niên khóa là cơ hội để ban huấn luyện cũng như chủng sinh lọc-lựa các đích-điểm của năm học. Điều này càng đúng hơn đối với những ai gia nhập chủng viện năm đầu tiên. Thật quan trọng khi biết mình muốn đi đâu! Nguyên tắc cứu-cánh là nền tảng trong mọi nền giáo dục. Giữa các đích điểm khác nhau xin nêu cao giá trị của việc đạt đến sự hiểu biết chân thật và không giả tạo về chính mình. Sự thật về con người của mình đúng là viên đá nền tảng cho mọi tiến trình trưởng thành nhân bản. Người ta chỉ có thể đạt đến mức độ trưởng thành nhân bản và tình cảm nếu trước đó người ta biết rõ về mình.

Có vài người nghĩ rằng sự trưởng thành nhân bản và việc biết rõ mình phải đạt được trước khi bước chân vào Chủng Viện. Người ta cũng thường nghe nói rằng chỉ nhận vào Chủng Viện những ai đã trưởng thành. Nói thế thì có nghĩa là chỉ ở trong thế gian – bên ngoài Chủng Viện – con người mới có thể trưởng thành!

Tuy nhiên, kinh nghiệm của các chủng sinh chứng minh ngược lại nguyên tắc trên đây. Thật vậy, ngay trong năm đầu tiên, các chủng sinh – thuộc bất cứ tuổi tác và có kinh nghiệm nào trong cuộc sống – đều làm cuộc khám phá duy nhất về con người thật của mình. Các mặt nạ rơi xuống.

Khi nhìn thấy khía cạnh tích cực, các chủng sinh tự khám phá ra các khả năng không ngờ hoặc không bao giờ dám nghĩ tới. Cùng lúc họ cũng chấp nhận các vết thương, các giới hạn, các nét mờ tối trong nhân cách của họ. Những ai trước đó từng có lúc mang mặt nạ để tự bảo vệ hoặc tìm kiếm chỗ đứng trong xã hội, thường làm rơi nhanh các mặt nạ này. Và họ cảm nhận niềm vui lớn lao khi chân thành thú nhận:
– Giờ đây tôi biết rõ hơn tôi đích thật là ai!

Nếu chủng sinh có thể đạt đến sự hiểu biết mình, chính là nhờ sống thật sự dưới cái nhìn của THIÊN CHÚA, được nhập thể trong cái nhìn của Đức Chúa GIÊSU KITÔ, Đấng Cứu Độ loài người. Trong Chủng Viện có việc xưng tội hàng tuần, có các buổi gặp gỡ đều đặn với Cha Bề Trên và tiếp nhận sự chỉ đạo thiêng liêng thường xuyên của Cha Linh Hướng. Nhờ vậy mà chủng sinh biết rõ mình là ai và tiến đến mức độ trưởng thành nhân bản. Ngoài ra cần nhấn mạnh đến những giờ thinh lặng suy gẫm, những cuộc chuyện trò lòng bên lòng với Đức Chúa GIÊSU KITÔ, giúp đưa chủng sinh từ miền bóng tối tiến vào vùng ánh sáng. Lời Đức Chúa GIÊSU phán: ”Chính Thầy là Con Đường là Sự Thật và là Sự Sống. Không ai đến với CHÚA CHA mà không qua Thầy” (Gioan 14,6), nhắc chủng sinh luôn ghi nhớ rằng phải sống trong sự thật, thật với chính mình và thật với người khác. Như thánh Phêrô và thánh Phaolô, chủng sinh học cách thức xây dựng cuộc đời mình trong niềm tin nơi Con THIÊN CHÚA.

Ngoài tiến trình thiêng liêng, còn có đời sống chung và tình huynh đệ góp phần vào việc thao luyện nhân cách của chủng sinh. Thật vậy, chủng sinh phải học sống với người anh em mình không chọn cũng không thể trốn tránh. Nói một cách khôi hài thì, chúng ta bị ”kết án” sống chung! Tuy nhiên, người anh em lại là tấm gương phản chiếu hình ảnh chúng ta. Vì thế phải học nhìn thẳng vào mặt người anh em. Đặc tính của nền huấn luyện nhân bản nằm ở chỗ đó! Vượt lên trên các tình cảm tự nhiên, chịu đựng người anh em có tính tình khác xa mình, vui vẻ chấp nhận các câu nói đùa, và nhất là biết tha thứ và biết xin lỗi, là những yếu tố cần thiết dệt nên cuộc sống thường nhật của chủng sinh.

Xuyên qua các kinh nghiệm giao tế, sự thật về chính mình dần dần được tỏ lộ. Các mặt nạ rơi xuống. Từ đó chủng sinh có thể phân định con đường ơn gọi của mình. Khi yêu thương bằng hành động và bằng sự thật thì chủng sinh mới tận hưởng được niềm vui: sống hài hòa với chính mình và với anh em. Nụ cười thẳng thắn của một chủng sinh là dấu hiệu chứng tỏ chủng sinh ấy đang ở trên con đường của sự thật. Chủng sinh có thể an tâm tiến bước!

Chứng từ của Cha Louis-Hervé Guinay, Linh Mục người Pháp thuộc Cộng Đoàn Saint-Martin.

… Vậy, Đức Chúa GIÊSU nói với những người Do Thái đã tin Người: ”Nếu các ông ở lại trong Lời của Tôi, thì các ông thật là môn đệ Tôi; các ông sẽ biết Sự Thật, và Sự Thật sẽ giải phóng các ông”. Họ đáp: ”Chúng tôi là dòng dõi ông Abraham. Chúng tôi không hề làm nô lệ cho ai bao giờ. Làm sao Ông lại nói: ”Các ông sẽ được tự do?” Đức Chúa GIÊSU trả lời: ”Thật, Tôi bảo thật các ông: hễ ai phạm tội thì làm nô lệ cho tội. Mà kẻ nô lệ thì không được ở trong nhà luôn mãi, người con mới được ở luôn mãi. Vậy, nếu Người Con có giải phóng các ông, thì các ông mới thực sự là những người tự do” (Gioan 8,31-36).

(”Sub Signo Martini”, Sous la protection de Saint Martin, La revue de la Communauté Saint Martin, Trimestriel – N.32 – Septembre 2011, trang 22-23).

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt