"Con không biết rằng Cha thường đối xử với bạn bè bằng cách gửi cho họ Thánh Giá sao?"

Tình yêu là số 0!

Tình yêu là số 0. Dù có thêm bao nhiêu vào bao nhiêu số 0 đi chăng nữa, thì kết cục cũng chỉ nhận lấy thất bại mà thôi... Đừng có ngớ ngẩn như vậy chứ. Số 0 là điểm khởi đầu của tất cả. Không xuất phát từ nó thì không gì có thể tồn tại được!

Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít

Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin mừng cho mọi tạo vật. (Mc 16: 15-18)

Tôi ghét sách!!!

Chúng chỉ dậy tôi về những điều mà tôi chẳng biết gì. Tôi đọc lòi cả mắt và vẫn không đọc được đủ tới một nửa... Tôi càng đọc nhiều, tôi càng thấy còn nhiều điều cần phải đọc.

Tôi sống hết tôi từng khoảnh khắc.

Vì chúng ta còn trẻ nên một ngày không cần phải quá bình yên. Vì chúng ta còn trẻ hãy cứ điên, nếu có sai chúng ta vẫn còn đủ thời gian làm lại mà... Tuổi thanh xuân giống như một cơn mưa rào. Dù cho bạn từng bị cảm lạnh vì tắm mưa, bạn vẫn muốn được đằm mình trong cơn mưa ấy lần nữa.

"Tôi tên là Giêsu của Têrêsa"

- Này em, em tên gì? - Thưa bà, vậy bà tên chi? - Tôi tên là Têrêsa của Chúa Giêsu. Cậu bé mỉm cười rất dễ thương tiếp lời: - Tôi, tôi tên là ... Giêsu của Têrêsa! Nói xong, cậu bé "Giêsu của Têrêsa" biến mất...

Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo Hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo Hội. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 6 tháng 1, 2016

- Louis Pasteur : “Càng nghiên cứu khoa học, tôi càng tin vào Đức Chúa Trời.. Thật là mĩa mai cho lòng dạ con người, nếu chết là hết, hoặc chết là trở về với hư vô ... Một chút khoa học sẽ gạt bỏ Chúa, giàu khoa học sẽ quay về với Chúa” .
- Albert Einstein: “Sự gian ác là do vắng bóng Thiên Chúa trong linh hồn ... khoa học không tôn giáo là mù lòa, tôn giáo thiếu khoa học là què quặt....Tôi chưa hề gặp điều gì trong Khoa học của tôi mà lại đi ngược với Tôn giáo.”
- James Simpson : “Phát minh quan trọng nhất của đời tôi là tìm được Chúa Cứu Thế Giêsu .”
- Andre Marie Ampere “Con người chỉ vĩ đại khi quỳ xuống cầu nguyện với Thiên Chúa .”
- Blaise Pascal :"Giả như Thượng Đế không có, ta chẳng mất gì cả, nếu đã tin vào Ngài. Nhưng nếu có Ngài, ta sẽ mất tất cả, nếu ta không tin"
- Victor Hugo nói: “Nước Anh có hai cuốn sách: Kinh Thánh và Shakespeare. Nước Anh sinh ra Shakespeare; còn Kinh Thánh làm nên nước Anh”.
- Isaac Newton : "Cái huy hoàng của thái dương hệ, các hành tinh, sao chổi, chỉ có được là do sự điều hành của Một Đấng Thông Minh, Toàn Năng ...Tôi thấy Thượng Đế qua viễn vọng kính ....Thánh Kinh có nhiều biểu hiện chăc chắn về tính có thực hơn bât cứ một câu chuyện nào chống lại sách đó ...Trong đời mình tôi nhận biết được hai sự thật: thứ nhất - tôi là kẻ đại tội nhân, và thứ hai - Jêsus Christ vĩ đại vô lượng là Đấng Cứu Chuộc tôi ...Lực hút Trái đất chỉ giải thích sự chuyển động của các hành tinh nhưng không thể làm rõ ai, khi nào và bằng cách nào đã đưa các hành tinh vào vị trí chuyển động như vậy. Chính Chúa trời là người điều khiển và sắp đặt vạn vật. Người là bất diệt, là vĩnh cửu…”.
- Becquerel: "Nhờ nghiên cứu khoa học, đã dẫn tôi đến Thượng Đế và tôi có đưc tin ."
- Bourgeois: "Không có gì cản trở tinh thần khoa học hòa hợp với tín ngưỡng đã được suy nghĩ sáng suốt. Trái lại, khoa học càng được đào sâu, thì tôn giáo lại càng được tăng thêm sức mạnh và bàn tay uy quyền của Thiên Chúa, Đấng Tạo hóa, lại càng được sáng to hơn ."
- Duclaux: "Nếu sự sống đầu tiên xuât hiện trên mặt đât do tình cờ, nơi mà (vũ trụ này) mọi sự đều có luật, thì sự xuât hiện kia, nó kỳ dị như hòn đá, tự bò lên sườn núi ."
- Alessadro Volta : "Niềm tin như điện, bạn không thể thấy nó, nhưng có thể thấy ánh sáng ."
- Moreux : "Tôi liên lạc với cac vị giám đôc thuộc hầu hêt mọi đài thiên văn trên thế giới, tât cả đều tin có Thiên Chúa ."
- Charles Nicolle :“May mắn thay trong tôn giáo có những bí nhiệm. Nếu không tôi sẽ hoài nghi nó, vì cho rằng tôn giáo là do trí loài người tạo ra. Bí nhiệm làm tôi vững tâm; đó là dấu ấn của Thiên Chúa .”
- Thomas Alva Edison : "Edison hết sức khâm phục và ca ngợi tât cả kỷ sư, trong đó gồm cả Thiên Chúa ."
- Chevreul : “Tôi không thấy Thiên Chúa vì Ngài thiêng liêng, nhưng tôi thấy công trình tạo dựng của Ngài”
- Diderot : “Chỉ cần con mắt và cái cánh của con bướm, cũng đủ diệt tan mọi lý lẽ của kẻ vô thần .”
- LaBruyère: “Tôi muốn thấy một người trong sạch và tiêt độ tuyên bố rằng không có Thượng đế, nhưng không thấy ai cả .”
- Wernher Von Braun : "Sự bao la huy hoàng của vũ trụ đã làm cho đức tin vào Đấng Tạo Hóa của tôi được tăng thêm. Khoa học và đạo không thể mâu thuẫn nhau, nhưng là chị em ruột thịt, vì khoa học tìm thấy sự huy hoàng của vạn vật, mà đạo thì tìm thấy Đấng Tạo Hóa quyền năng đã dựng nên vạn vật tốt đẹp lạ lùng”
- Bacon: “Kiến thức nông cạn đưa người ta xa tôn giáo, ngược lại kiến thức sâu sa đưa người ta lại gần tôn giáo .”
- Francois Coppée: “Làm sao từ nay tôi không tin có phep lạ, sau khi đã được phép lạ do sách Phúc Âm làm nơi tôi? Linh hồn tôi trước kia mù tịt trước ánh sáng đức tin, bây giờ đã thấy ánh sáng này với tât cả vẻ huy hoàng của nó. Linh hồn tôi trước kia điếc đặc trước Lời Chúa, nay đã nghe rõ ràng và vui sướng cảm phục. Linh hồn tôi trước kia tê liệt vì không tìm hiểu tôn giáo, lúc này đã nóng nảy hăng hái bay lên trời. Qủy dơ bẩn mà linh hồn tôi bị ám ảnh, nay đã bị đuổi đi .”
- T. Termier: "Cứ chung mà nói, mọi khoa học đều dọn trí khôn ta nhận biêt Thiên Chúa hiện hữu...khoa học dẫn đến Thiên Chúa; và cũng chính vì thế mà người ta có thể nói, vũ trụ vật lý là bí tích của Thiên Chúa ."
- A. Eynieu : trong số 432 nhà bac học thuộc thế kỷ 19; 34 vị không biêt lập trường tôn giáo, còn 398 phân chia như sau: 15 vị dửng dưng, 16 vị vô thần, 367 vị tin; như vậy là 92% cac nhà bac học tin có Thiên Chúa.
- Bossuet : “Những chân lý đời đời không thay đổi [của luân lý] buộc ta phải tin rằng có một Đấng Tạo Hóa”.
- Victor Gess : “Một nhà khoa học chân chính có thể tin vào Đức Chúa Trời được không? Tôi nghĩ là có ... Tôi phải thừa nhận rằng qua suốt bấy nhiêu năm nghiên cứu khoa học của mình trong lĩnh vực vật lý và địa chất tôi chưa bao giờ nhận thấy những kết quả nghiên cứu khoa học có điều gì trái nghịch với đức tin vào Đức Chúa Trời - Đấng Tạo Hóa.”
- Charles Dickens : “Kinh Thánh Tân Ước chính là quyển sách tốt nhất đã từng và sẽ được biết đến trên thế giới”.
- Platon : “Những ai có một chút trí khôn, đều phải kêu cầu Đức Chúa Trời trước khi bắt đầu công việc của họ, dù việc lớn hay việc nhỏ”.
- Chateaubriand : “Tiêu hủy sự tin kính theo Phúc âm, thì mọi làng phải xây nhiều nhà ngục và phải có nhiều lý hình”.

Thứ Hai, 4 tháng 1, 2016

LINH MỤC NGÀY NAY

(Bài viết này của Đức Cha John R. Quinn, trước đây Ngài từng là Tổng Giám Mục San Francisco, California, USA.) 

Từ khi bắt đầu làm Giám Mục, 32 năm trước đây, tôi đã có dịp gặp gỡ và làm việc với nhiều linh mục khắp nơi tại Hoa Kỳ. Tôi đã từng là Giám Mục một giáo phận miền quê, rồi Giám Mục một giáo phận ở thành thị. Tôi đã từng đi giúp tĩnh tâm cho các linh mục ở Miền Đông, Miền Tây và miền Trung Tây Hoa Kỳ. Tôi đã cùng làm việc với các linh mục trong các Uỷ Ban và trong Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Hoa Kỳ. Ở đây, tôi chỉ muốn trình bày hình ảnh linh mục của giai đoạn lịch sử này – Lúc này là vào tháng 7 năm 2002.

Cách đây vài năm, tôi có dịp đến giảng tĩnh tâm cho các linh mục tại một giáo phận và nhân lúc ăn trưa, nhiều linh mục đến nói chuyện với tôi về số linh mục giảm sút tại Hoa Kỳ, rồi hỏi tôi các Đức Giám Mục tại Hoa Kỳ đang làm gì để đối phó với sự giảm sút tăng nhanh đó. Tôi nói là đã có những cuộc bàn thảo về làm cách nào để cổ võ ơn gọi làm linh mục; tuy nhiên, theo như tôi biết, thì chưa có một kế hoạch thực sự nào có tính cách toàn quốc để đáp ứng với vấn đề này. Nghe tôi nói như thế, các linh mục đó tỏ ra thất vọng; tuy nhiên, có một linh mục nói với tôi: "như vậy thì thật đáng thất vọng cho anh em linh mục chúng con; nhưng chúng con vẫn quyết trung thành với sứ vụ linh mục để phục vụ Chúa và Dân Chúa!"


Thật sự, tinh thần trung thành phục vụ đó, tôi gặp thấy khắp nơi tại Hoa Kỳ. Các linh mục tại Hoa Kỳ đang âm thầm và trung tín thực thi sứ vụ linh mục của mình một cách tuyệt hảo với tất cả khả năng của mình. Nhiều linh mục đang sống một cuộc sống anh hùng. Họ sống thầm lặng không cần ai biết tới. Họ đặt nền tảng đời sống của họ vào lời cầu nguyện và niềm tin tưởng phó thác nơi Chúa. Họ luôn ấp ủ một niềm lắng lo sâu xa, tinh tuyền cho Dân Chúa. Hiệu quả của đời sống chiêm niệm và phục vụ của các anh em linh mục đó là họ có thể nhìn thấy Chúa Giêu trọn vẹn là đầu, là chi thể, là Thiên Chúa và Dân Chúa. Đời sống chiêm niệm không khép kín các linh mục đó nơi Chúa Kytô mà quên Dân Chúa. Các linh mục đó không chỉ nguyên lo cho đời sống thiêng liêng của mình, nhưng các ngài được nâng đỡ, được phong phú hóa và tìm thấy sức mạnh ngay khi sống cho giáo dân và sống giữa giáo dân. Họ gặp thấy Chúa Kytô ngay khi làm việc với giáo dân cũng như khi âm thầm cầu nguyện một mình. Họ thật sự đã sống sâu xa lý tưởng linh mục đã được ghi lại trong Phúc Âm Thánh Gioan, Chương X: "Người mục tử tốt lành là người mục tử dám hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên!"

Bất cứ ở đâu, kể cả khi tôi đi nghỉ hè với các linh mục, tôi cũng thấy họ bàn đến sinh hoạt giáo xứ của mình, về những dự án ích lợi hay không ích lợi cho giáo dân, những cảm nghĩ về các biến cố và chủ trương trong đời sống Giáo Hội. Nói cách khác, các linh mục đó là những người luôn tập trung tất cả nghị lực để phục vụ giáo dân và Giáo Hội Chúa. Chức linh mục của các linh mục đó không phải chỉ là một nghề hay một công việc, nhưng là cả một cuộc đời! (their priesthood is neither an avocation nor a job. It is their life!). Các linh mục đó làm tôi xúc động nhớ đến một lần khi một chính trị gia nổi tiếng toàn quốc đến nhà dùng cơm chiều với tôi. Từ khi ông đến cho đến khi về, ông chỉ nói về chính trị. Có thể nói chính trị là đồ ăn thức uống của ông. Cũng tương tự như vậy, tôi đã gặp nhiều linh mục luôn luôn lo lắng cho giáo dân. Các ngài là những chủ chăn mà đồ ăn thức uống là Giáo Hội, giáo xứ và giáo dân. Công việc mục vụ là trung tâm cuộc sống của họ.

Tôi biết có những linh mục vẫn giữ việc nguyện ngắm hàng ngày, vẫn đều đặn đi tĩnh tâm, đi "bàn việc linh hồn" và đi xưng tội. Tôi vẫn thường đi chung xe với những linh mục có treo tràng chuỗi trên xe hoặc để ở một dĩa nhỏ gần chỗ ngồi. Trên bàn ở phòng khách của nhiều linh mục vẫn để những cuốn Thánh Kinh, và trên giá sách vẫn để những cuốn sách chú giải Thánh Kinh, những sách đạo đức và những sách tra cứu để dọn bài giảng. Tuy nhiên, trong "cốp xe" của các linh mục đạo đức này, vẫn có cây đánh gôn, đồ đi trượt tuyết hoặc đi săn. Đó là các linh mục biềt sống đời sống nội tâm sâu xa, nhưng cũng biết dành thời giờ giải trí để giữ đời sống được quân bình. Đan cử như Đức John Henry Newman, dù đem hết tâm lực dấn thân vào đời sống mục vụ và viết sách, ngài cũng vẫn thích đi thăm sở thú. Thỉnh thoảng, kể cả khi ngài đã làm Hồng Y và khi tuổi đã lớn, ngài vẫn đi xe lửa lên London để thăm sở thú cả một ngày. Có khi Ngài làm cho Đức Hồng Y Henry Edward Manning cũng phải ngạc nhiên, khi thấy ngài đến thăm và ngủ lại đêm với ông bà mục sư Niên Trưởng Anh Giáo tại nhà thờ Thánh Phaolô (Luân Đôn).

Việc có những linh mục làm gương xấu vì bị tố là lạm dụng tính dục đã gây đau khổ cho các linh mục ngày nay. Tại California, những khủng hoảng về tài chánh và tính dục ở địa phận Santa Rosa đã làm chúng ta bận tâm rất nhiều. Không lâu trước đây, "Kansas City Star" có báo cáo là một số linh mục bị bệnh "Aids". Nhưng những nghiên cứu sau đó đã chứng tỏ là bản báo cáo và những cuộc điều tra của họ rất thiếu sót và thiếu xác thực. Tất nhiên, bên cạnh những điều tốt lành của các linh mục cũng vẫn có những gương xấu nơi một số linh mục đã không được huấn luyện thuần thục để có thể trưởng thành về tâm lý và tình cảm. Một số còn lại bị ảnh hưởng xấu lúc tuổi trẻ hoặc xuất thân từ những gia đình không được hòa thuận. Một số, nay đã lớn tuổi, bị như vậy cách trầm trọng, vì đã bị giáo dục một cách khép kín trong thời gian ở Chủng Viện vào thời trước công Đồng Vatican II.

Có những linh mục, cũng giống như nhiều nhân vật hoạt động cho quần chúng, thời xưa cũng như thời nay, thường không chịu tìm kiếm sự nâng đỡ và những trị liệu tâm lý, sợ rằng sẽ bị thiên hạ kết án, hoặc có thể nêu gương xấu. Họ nghĩ "nếu thiên hạ biết tôi phải đi bác sĩ tâm lý, chắc sẽ cho là tôi đang gặp vấn đề thác loạn tâm lý trầm trọng đáng tiếc." Một số khác sợ sẽ bị "tẩy chay" nếu phải đi chữa bệnh tâm lý. Vì thế, "vấn đề" của họ cứ âm ỉ và liên tục phát triển cho đến lúc "bùng nổ thảm hoạ". Ráng "kìm hãm" là một yếu tố gây thảm họa.

Vậy phải giải quyết các nan đề đó như thế nào?

Trước hết phải bỏ đi ảo tưởng là các bệnh họan đó ngày xưa không có và sẽ hết đi trong một tương lai gần. Thực sự những bệnh tâm lý đó vẫn luôn xảy ra. Bao lâu chúng ta còn mang bản tính con người, những "vấn đề" đó vẫn tồn tại và liên tục xảy ra. Điều đó trước đây người ta đã hiểu không đúng.

Bây giờ người ta hay phiền trách các Đức Giám Mục là đã không biết cách giải quyết đúng vấn đề gây ra do bệnh "mê trẻ em (pedophilia) hay "bệnh mê thiếu niên" (ephebophilia). Mà làm sao các vị Giám Mục biết được, trong khi chính các nhà chuyên môn tâm lý cũng không biết, hay biết rất ít về các bệnh tâm lý này. Hồi xưa không có vấn đề khảo sát về bệnh "mê trẻ em" mãi cho đến cách đây chừng 15 năm. Một bác sĩ tâm thần nói với tôi là trong thời gian học tập lâu dài, ông chỉ được nghe thuyết trình vào khoảng 2 giờ đồng hồ về "bệnh mê trẻ em" (Pedophilia). 

Thường thì các phương tiện truyền thông thích khai thác vấn đề tu sĩ lạm dụng tính dục. Điều này càng làm cho các linh mục thêm đau buồn. Khi một linh mục ở San Francisco bị nêu tên liên tục trên báo chí về tội xâm phạm tính dục, một viên chức cảnh sát đến nói với tôi rằng trong năm đó ông phải xử lý 1,100 vụ lạm dụng tính dục trẻ em của đủ thứ người khác nhau, nhưng trong đó chỉ có một linh mục, thế mà dân chúng lại chỉ biết đến trường hợp của linh mục đó thôi.

Những nghiên cứu và thực tế cho thấy: Hầu hết các linh mục yêu mến công việc mục vụ của mình, biết đặt trọng tâm đời sống trên nền tảng đức tin. Đa số biết cảm nhận được niềm vui sâu xa, thầm lặng qua việc cử hành Thánh Lễ.

Đứng trước những thử thách hiện nay, các linh mục đó biết tìm ra đường hướng giải quyết các vấn đề nghiêm trọng có thể gây phiền muộn và nản lòng. Hơn nữa, các linh mục đó luôn cảm nhận được sự nâng đỡ và yêu thương của giáo dân. Nhờ thế, các ngài cảm thấy không bị cô đơn trong cuộc sống.

Vậy, viễn tượng không phải là đen tối đâu! 


Tôi tin rằng lúc này là thời gian tốt nhất trong lịch sử của Giáo Hội để sống đời linh mục; vì lúc này là lúc chỉ có một lý do duy nhất để đi tu làm linh mục hay tiếp tục đời linh mục, đó là chỉ để sống với Chúa Kytô và sống vì Chúa Kytô chứ không phải vì để được lợi ích vật chất hay để được ca tụng, kính nể hay để có địa vị hay tiền của hoặc các lợi ích trần gian khác. Những điều trên đây hoặc chẳng còn hoặc rồi cũng mau chóng hết đi. Linh mục ngày nay bó buộc phải chọn lựa hoặc tự hiến toàn thân cho Chúa Kytô, một Chúa Kytô chân thực, là Đấng đã sống nghèo, nghèo đến độ bị người đời coi khinh, chối bỏ và đánh giá sai lạc. Đó là một Chúa Kytô chân thực của Tin Mừng. Nếu không sống như vậy, linh mục sẽ như nhóm người lầm lạc thời Chúa Kytô, chỉ muốn sống theo thói thường, sống theo thế gian, lúc nào cũng muốn thịnh đạt.

Một linh mục lấy Chúa Kytô làm trọng tâm đời sống và tình yêu của mình, là một linh mục có thể đem lại cho Giáo Hội và Thế giới điều mà thời nay mong đợi, đó là Niềm Hy Vọng. Giáo Hội cần những người đi rao giảng. Đúng! Nhưng, hơn bao giờ hết, lúc này Giáo Hội cần những chứng nhân đem lại Niềm Hy Vọng.

(Bản dịch từ bài báo "The Strenghts of Priests Today" của Đức Tổng Giám Mục John R. Quinn, đăng trong Tuần Báo America, July 1-8, 2002 – Bản dịch do Linh Mục Anphong Trần Đức Phương).

Lời nguyện của một linh mục chiều Chúa nhật



Lạy Chúa, chiều nay, con chỉ có một mình … những tiếng động trong nhà thờ lần lần tắt im … những người đi dự chầu đã về hết.

Và con, con trở về nhà xứ,

Một mình …

Con gặp những người đi dạo chơi về …

Con đi qua những rạp hát chật ních người vào ra …

Con thả bước dài theo các quán cà-phê đầy những người có vẻ buồn chán đang gượng gạo kéo dài cuộc vui ngày Chúa nhật …

Con gặp thấy nhiều trẻ con đang chơi trên các vỉa hè. Những trẻ con, lạy Chúa, nhưng là những trẻ con của người ta, chớ không bao giờ phải là của con …

Này con đây, lạy Chúa, con chỉ có một mình …

Sự yên lặng làm con khó thở,

Sự cô quạnh đè nặng trên con …

Lạy Chúa, nay con được 34 tuổi,

Con có một thân thể như những người khác,

Với những bàn tay gân guốc để làm việc,

Với một quả tim được dành để yêu đương,

Nhưng con đã phó dâng cho Chúa hết …

Thật ra Chúa đang cần những cái đó.

Con đã phó dâng cả cho Chúa rồi, nhưng lạy Chúa, dâng vậy thật là đau khổ …

Thật đau khổ khi con phải dâng thân xác cho Chúa, bởi vì thân xác đó nó muốn tự hiến cho một người khác.

Thật đau khổ khi phải yêu tất cả mọi người mà không được giữ riêng lại một người nào.

Thật đau khổ khi con bắt lấy một bàn tay mà con không được muốn giữ luôn …

Thật đau khổ khi con gây được một mối tình mà rồi phải trao mối tình đó lại cho Chúa …

Thật đau khổ khi con không được sống cho mình một chút nào mà phải hoàn toàn sống cho kẻ khác.

Thật đau khổ khi con phải sống như kẻ khác, giữa kẻ khác, mà con không phải là người như họ …

Thật đau khổ khi con phải đi tới với kẻ khác, mà không hề có một ai sẽ tới với con.

Thật đau khổ để biết tội lỗi kẻ khác trong khi con không được từ chối việc tiếp đón và nâng đỡ họ.

Thật đau khổ khi con nhận biết những sự kín của người ta mà không được tiết lộ cho ai …

Thật đau khổ khi thấy cả đời con phải lôi kéo kẻ khác mà không khi nào được ai thúc đẩy con dù trong chốc lát …

Thật đau khổ khi con phải luôn luôn ra tay nâng đỡ những người yếu đuối mà con thì không bao giờ nương dựa được vào một người mạnh …


Này con đây, lạy Chúa !

Này thân xác con

Này trái tim con

Này linh hồn con …

Xin cho con được cao thượng đủ để vượt lên khỏi thế gian.

Xin cho con được mạnh mẽ đủ để nâng đỡ thế gian.

Xin cho con trong sạch đủ để ôm ấp thế gian mà không hề muốn giữ lại nó cho con.

Xin cho con được nên như một môi trường gặp gỡ, nhưng là một môi trường tạm thời ; cho con nên như con đường không cùng lối, hướng dẫn đi tới Chúa.

* * *

Lạy Chúa, chiều nay trong khi mọi sự đều yên lặng và trong khi trái tim con cảm thấy đau đớn vì cô quạnh.

Trong khi mọi người đang giày vò hồn con và con cảm thấy bất lực để làm cho họ được thoả mãn.

Trong khi bao nhiêu khốn nạn và tội lỗi của thế gian là cả một sức nặng đang đè trên vai con.

Thì con xin nói lại với Chúa là con sẵn sàng hy sinh luôn ; không phải nói với một giọng cười diễu nhưng nói một cách chậm rãi, suy nghĩ và khiêm nhường.

Lạy Chúa, này con đang một mình trước mặt Chúa, trong sự yên lặng của buổi chiều nay.

Theo mãi một Người

Đức Giêsu vừa lên đường thì có một người chạy đến quỳ xuống trước mặt Người và hỏi: "Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp ?" Đức Giêsu đáp: "Sao anh nói tôi là nhân lành ? Không có ai nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa. Hẳn anh biết các giới răn: chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp. chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thờ kính cha mẹ". Anh ta nói: "Thưa Thầy, tất cả những điều đó tôi đã tuân giữ từ thuở nhỏ". Đức Giêsu đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến. Người bảo anh ta: "Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi". Anh ta sa sầm nét mặt vì lời đó, và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải. (Mc 10,17-22)

Thuở xưa, khi Thiên Chúa chọn ai làm việc cho Chúa thì Người nói chuyện với họ cách rõ ràng lắm, như trường hợp của ông Abraham, của Môsê, của ngôn sứ Isaia ... Chúa chọn thánh Giuse thì Người toàn nói chuyện qua giấc chiêm bao, Tin Mừng thời thơ ấu của thánh Mátthêu có 48 câu thì mơ hết 4 lần, trung bình cứ 12 câu mơ một lần. Phải chi bây giờ Chúa muốn chọn ai thì Người cũng tỏ mình ra cụ thể như thế thì đỡ biết mấy, mình khỏi phải giải đáp câu hỏi rất thường hay gặp: cha thấy con có ơn gọi không cha ? Ơn gọi của cha, cha còn không thấy làm sao thấy được ơn gọi của con ! Ngày xưa Chúa ở xa người ta quá, muốn gọi ai thì Người bay đến gặp, như thiên thần Gabriel đến gặp Đức Mẹ vậy. Bây giờ thì Chúa đã phục sinh, chẳng còn tường lũy, không gian hay thời gian, hữu hình hay vô hình nào ngăn cách nổi, nên Chúa ở quá gần, ngay trong tâm lòng người ta, cho nên bây giờ người ta chỉ nghe tiếng gọi, nhè nhẹ và mơ hồ từ trong chính mình: "Hãy theo Ta". Ai lắng tai thì nghe. Lắng trong cầu nguyện sẽ nghe, còn nếu Chúa không chịu nói tức là gật đầu, cứ thế mà theo, đúng sai bây giờ không phải tại con mà tại Chúa !

Chúa gọi: "Hãy theo Ta", không phải đi theo thập giới cũng chẳng đi theo luật dòng, nhưng đi theo một con người có thể thọc tay vào cạnh sườn được. Đi tu là theo sát Chúa Kitô, sát chứ không phải cách xa vài chục mét. Mình vốn yếu đuối, theo sát có tai nạn gì may ra Chúa còn cứu kịp, xa quá lỡ khi có chuyện Chúa có “bay tới” cũng chậm mất rồi.

Có một sự thật hơi bị đau lòng, ấy là có nhiều người giữ đạo đồng nghĩa với giữ 10 điều răn Đức Chúa Trời và 6 luật điều Hội Thánh. Người ta bị các giới răn luật lệ ràng buộc hơn là ánh mắt Thiên chúa nhìn mình mà đem lòng yêu mến. Người ta quên mất, đi đạo là đi theo một con người. Ra giải tội ngoài Bắc, mình gặp thấy những kiểu xưng tội luật ơi là luật. Thưa cha, điều răn thứ nhất con không phạm, điều răn thứ hai con kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ 10 lần, điều răn thứ ba con không phạm, điều răn thứ tư con có cãi lại mẹ con ... Để ý mà xem, có nhiều người dân tuân thủ luật lệ rất đàng hoàng nhưng không hề biết ai là chủ tịch nước ! Mình đi tu phải theo sát Chúa hơn người sống ngoài đời, Chúa muốn mình phải vậy mà người ta cũng đòi mình phải vậy. Ánh mắt nhân ái khoan dung kia còn hơn cả giới luật. Khi mình chưa bước theo thì ánh mắt ấy đã theo mình tự lúc nào rồi. Chúa nói với Nathanael mà như nói với mình: "Lúc anh đang ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh rồi". Thánh Phêrô đã gặp ánh mắt ấy sau khi chối Thầy 3 lần và ông òa khóc nức nở. Lòng của người môn đệ khi ấy mới chạm đến lòng Thầy, để rồi ông sẽ nói lên: Lạy Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy. Đó là mối liên hệ riêng biệt một Thầy một trò không ai có thể có được, không có mẫu số chung. Trong nhà dòng mình cũng có mấy cha được yết kiến Đức Giáo Hòang. Thật hãnh diện và hạnh phúc. Kinh nghiệm đích thân ấy ăn đứt mấy cái tông thư tông huấn bác học.

Người thanh niên đến gặp Đức Giêsu đã giữ các giới răn từ thuở bé nhưng vẫn thiếu một điều: phải "giữ" ông Thầy này, phải "giữ" cái người làm ra luật đây này. Nếu đem cái câu "nhất nam viết hữu thập nữ viết vô" mà áp dụng ở đây thì có thể nói "nhất Sư viết hữu, thập giới viết vô" nghĩa là nếu có Thầy thì kể là có, còn có cả mười giới răn mà không có Thầy thì vẫn kể là không. Thật vậy, Chúa Giêsu bảo bán hết cả đi mà, chỉ cần duy nhất một điều thôi: hãy theo Ta. Tin Mừng nói Đức Giêsu nhìn chàng thanh niên mà đem lòng yêu mến. Ngài lấy lòng yêu mến mà kêu gọi anh ta trở nên môn đệ Ngài. Gác hết mọi thứ qua một bên đi, không những của cải mà cả cái tự hào giữ các giới răn từ thuở bé nữa. Ở đây chỉ có Thầy, trò và một mối dây yêu thương mà thôi.

Kết thúc Tin Mừng theo thánh Mátthêu, Chúa Giêsu nói gì ? Hãy đi thâu nạp môn đệ, rửa tội cho họ, dạy cho họ Lời Chúa ... Cái trước hết là thâu nạp môn đệ, nghĩa là xây dựng cái tình thầy trò, cái nhìn nhau mà đem lòng yêu mến. Đâu có phải người ta đói, đem một bao gạo tới rồi đè đầu người ta xuống rửa tội rồi bảo họ là môn đệ Chúa Kitô. Đâu có phải là vô lớp dạy ráo riết dăm bữa nửa tháng như dạy toán lý hóa sinh. rồi trả bài, rồi rửa tội, rồi bảo rằng đó là môn đệ Chúa Kitô. Vì vậy, dạy giáo lý dự tòng quan trọng nhất vẫn là tạo cho được cái quan hệ Thầy trò yêu thương đó, chứ không phải là nhồi nhét một mớ lý thuyết kinh kệ.

Người sống ngoài đời còn cần có quan hệ thiết thân với Chúa Giêsu huống nữa là mình. Lắm khi mình chạy đầu nọ đầu kia tối tăm mặt mũi cả ngày, bỏ vắng nhà nguyện. Ừ thì mình cũng có thể bao che rằng mình làm việc cho Chúa chứ đâu có làm gì khác đâu, có thể nhớ tới Chúa trong công việc, vừa làm vừa cầu nguyện ... nhưng hình như đó chỉ là lấp liếm không thật ... Công việc nó quay mình như chong chóng cả ngày, về tới nhà mệt phờ ra, kinh kệ qua loa chiếu lệ. Rồi một hôm bỗng thấy mình làm việc như một công chức, không phải của nhà nước mà của nhà dòng. Hình như những công việc mình làm giáo dân họ cũng có thể làm được, mà có khi làm hay hơn. Mình là kỹ sư, là nhà hoạt động xã hội, giáo sư, y sĩ, văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, giáo sĩ, lung tung sĩ ... mà quên làm tu sĩ, quên theo sát Chúa Kitô.

Các gia đình ở ngoài đời cũng thường rơi vào hoàn cảnh như mình. Mới yêu nhau thì thân mật lắm, cưới nhau là bước vào thời trăng mật, mật nào cũng ngọt như đường cát mát như đường phèn. Chẳng được bao lâu, cả hai đều phải lè lưỡi kiếm ăn, thân mật với trăng mật đội nón ra đi, giờ chỉ còn lại dập mật. Làm việc là xây dựng gia đình mà. Cả hai ông bà thường xuyên cơm hàng cháo chợ, chẳng còn thời gian dành cho nhau nữa. Tình yêu dần dần ra nhạt, ông bà quên mất cái gốc do đâu mà có gia đình mình. Nhớ sao cái thuở ban đầu hạnh phúc, có nhau là ưu tiên 1. Gốc gác đời tu mình cũng thế thôi, mình với Chúa có nhau là ưu tiên một, nếu mối tương quan ấy nằm đúng ở vị trí số một tức là đi tu.

Có bà cụ bảo cháu thế này: đi tu đi cháu, bảo đảm nước thiên đàng, sống ở ngoài cheo leo lắm. Đi tu là tìm cõi sống thanh nhàn đời đời kiếp kiếp chẳng cùng Amen ư ? Vậy là đối với bà cụ, đi tu là để cho mình sướng, cho dù là sung sướng thiêng liêng đi nữa. Vậy thì đi tu là đi tìm mình, tìm thoải mái cho mình, Chúa có kí lô gam nào đâu. Thánh Gioan khi viết Tin Mừng đã để cho Chúa nói câu đầu tiên thế này: "Các ngươi tìm gì ?" Tìm Chúa hay tìm chốn thanh nhàn ... Người thanh niên gặp Chúa cũng muốn tìm chốn thanh nhàn làm gia nghiệp. Anh ta chỉ mong tìm mình và không muốn bán cái gì của mình hết. Chúa thì ngược lại, Ngài chỉ muốn anh ta có duy nhất một mình Ngài làm gia nghiệp. Anh muốn có sự sống đời đời làm gia nghiệp ư, quăng luôn cái sự sống đời đời của anh đi, Ta là thiên đàng đây này, Hãy theo Ta !

Mình tìm Chúa hay công việc của Chúa ? Mình nhớ ngày khấn trọn đời mình đã chọn một câu của thánh Phaolô làm kim chỉ nam cho đời mình. Có một thời gian đã trôi qua từ ngày ấy, có niềm vui thành công, có nỗi buồn thất bại trong việc tông đồ, có vết thương vì đã không giữ tròn lời khấn, có niềm vui ngây ngất khi cảm nghiệm Chúa ở cùng, bây giờ có lẽ mình phải thêm vào chút ít: Tôi coi tất cả là thiệt thòi, kể cả công việc của Chúa, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Kitô Chúa của tôi. Vì Ngài, tôi đành mất hết, kể cả công việc của Chúa, và tôi coi tất cả là rác rến, kể cả công việc của Chúa, để được có Đức Kitô, và được thuộc về Người. Cả cuộc đời thánh Phaolô trước và sau khi ngã ngựa đều là "đuổi theo để mà chiếm đoạt", đều là hung hăng làm sao bắt cho được Chúa. Trước thì ông muốn Chúa biến mất trên cõi đời này, sau thì ông ra công tìm cho bằng được. Tất cả chỉ vì một cái chụp bắt.

Mình cũng bị túm lấy rồi, nhưng lề mề chậm chạp, có ráo riết truy tìm Chúa đâu !

Sao anh em lại ngủ?


Cầu nguyện xong, Người đứng lên, đến chỗ các môn đệ, thấy các ông đang ngủ vì buồn phiền, Người liền nói với các ông: "Sao anh em lại ngủ ? Dậy mà cầu nguyện, kẻo sa chước cám dỗ (Lc 22,45-46)

Đạo Chúa ở ngoài Bắc mang màu sắc lễ hội. Chầu lượt là ngày lễ lớn nhất trong năm của một xứ đạo. Tín hữu ở các xứ lân cận cũng kéo nhau về mừng lễ, có khi họ đến trước hai ba ngày, nhất là các chàng trai cô gái vì cưới vợ lấy chồng mà phải qua xứ khác. Thường thì lễ lạc khởi động vào thứ năm rồi lai rai đến Chúa nhật. Đêm thứ bảy kiệu Mình Thánh Chúa đi quanh làng. Trong năm còn nhiều ngày lễ nữa, rất dễ dàng biến thành "hội" như lễ quan thầy giáo xứ, thứ năm thứ sáu tuần thánh, Lễ Giáng Sinh ... Đã làm nhà thờ là phải có đường kiệu. Kiệu thì phải có trống trắc. Xứ nào khá giả thì có kèn tây. Người ta kháo nhau xứ này làm đẹp làm to hơn xứ nọ. Tôi thấy có người cho như thế là bề ngoài. Lúc đầu tôi cũng nghĩ như vậy thật, nhưng sau này, khi đã nhiễm cái bầu khí đánh trống thổi kèn tôi lại thấy hay. Ừ thì ta cứ lợi dụng cái bên ngoài rầm rộ để dẫn vào chiều sâu đạo giáo. Giáo dân ta đại đa số là dân nghèo bình dị, cần tình cảm. Họ đâu có phải là trí thức triết gia chỉ trông thấy cái vô hình trừu tượng. Họ không sống trên mây trên gió. Họ là những người đi chân không trên mặt đất này, được giáo dục bằng lòng tốt nhiều hơn là lời nói, bằng thái độ cư xử dễ thương hơn là lý luận tinh vi.


Sáng sớm tinh mơ, chuông đánh là cả xứ đạo đã ồn ào cả lên rồi. Cha mẹ ông bà thúc con cái dậy đi lễ, không có lễ thì đọc kinh. Ngày nào cũng ba giờ kinh sáng trưa tối. Con nít vào nhà thờ chỉ gật lên gật xuống cũng phải đi. Tất cả đã thành nếp, nhất là trong các họ đạo nhà quê sống tương đối khép kín với bên ngoài. Việc học giáo lý rầm rộ vào mùa hè, có thi cấp xứ, cấp hạt, cấp giáo phận. Có cả lớp bồi dưỡng gà nòi để thi đấu và cũng có đủ tình trạng phao phiếc, gian lận như thi cử ngoài đời ... Đa phần chỉ chú trọng nhồi nhét kiến thức, thiếu chiều sâu, nghiêng về một Thiên Chúa công thẳng lạnh lùng.

Qua cái lò đào tạo như thế, đại đa số các xứ đạo miền Bắc là những tập thể mạnh, nhưng tách cá nhân ra khỏi xứ đạo thì chưa chắc. Có một số vào Nam làm việc rồi đâm ra hư hỏng. Tình trạng trầm trọng đến độ có cha xứ cấm không cho con chiên vào Nam kiếm sống nữa, hoặc làm gì thì làm, đến mùa hè phải về học giáo lý, bằng không thì "quên đi" chuyện lấy vợ lấy chồng ! Mình cho rằng miền Nam mang tiếng oan, cần gì phải vào Nam, cũng chẳng cần phải ra tới Hà Nội, từ quê ra tỉnh thôi cũng đã thay đổi rồi. Mình gặp một số sinh viên từ miền quê ra Hà Nội học hành, hư cũng có mà chưa đến nỗi hư cũng có. Họ tìm đến mình khi cảm thấy như đã đánh mất niềm tin, cái niềm tin tưởng chừng có thể dời non lấp biển khi còn ở quê nhà. Họ vào một môi trường mới. Sáng ra không có ai kêu dậy đọc kinh xem lễ. Bạn bè toàn là dân ngoại. Thầy giáo thì bảo không có Chúa. Đương nhiên không phải ai cũng bị khủng hoảng lòng tin, nhưng qua giải tội mình thấy có kha khá sinh viên nam cũng như nữ lắm khi chỉ bận rộn chút thôi là có thể bỏ lễ Chúa nhật được rồi.

Thành phố đầy cạm bẫy. Chính các sinh viên nữ người Hà nội nói với mình rằng: chúng con có gia đình tại thành phố, nên bị cha mẹ cấm không cho đi chơi khuya. Còn các bạn ở quê chẳng có ai kiểm soát cả, thích đi đâu thì đi, muốn mấy giờ về thì về. Mình thấy rằng có ra khỏi lũy tre làng mới biết mối dây ràng buộc giữa một bạn trẻ với Chúa có chắc hay không. Mà sợi dây này chỉ được đan dệt bằng cầu nguyện. Nếu những lễ lạc rước xách kinh kệ ở làng quê chỉ là gượng ép chiếu lệ ham vui đối với một bạn trẻ thì ra thành phố có nghĩa là tháo cũi xổ lồng. Thường thì bạn ấy không còn cầu nguyện riêng tư nữa. Xưa nay nếu thích ai thì mình hay trò chuyện với người đó. Nhờ trò chuyện mà hiểu nhau, nên thân thiết và tin nhau. Thế mà không cầu nguyện thì làm sao mà tin mà yêu Chúa được. Không cầu nguyện thì cầm chắc là sẽ thấy khô khan và lòng tin sa sút.

Trong cả một lịch sử dài của dân Chúa, họ biết đến một Thiên Chúa mạnh mẽ kinh khiếp uy hùng, nhưng chứng nào vẫn tật nấy. Hình như biện pháp trừng phạt răn đe không mấy hiệu quả. Luật khắc trên đá như vậy chỉ áp dụng cho dân trước công nguyên, mà hiệu quả không được như ý lắm (giống như luật giao thông bây giờ, hay giống như cấm những người nghiện hút không được chơi heroin), Sau công nguyên thì luật phải được khắc trong tim. Răn đe vẫn còn đấy nhưng dành cho các tín hữu chưa trưởng thành. Lớn lên rồi thì chỉ có lòng yêu thương mới ràng buộc được người ta với Chúa. Vì muốn tạo mối dây yêu thương ấy mà Chúa Giêsu mới xuống thế làm người. Chỉ có dây yêu thương mới giữ nổi người ta lại với Chúa giữa thác lũ thế gian lôi cuốn. Mà không cầu nguyện, không trò chuyện với nhau thì làm gì có yêu thương.

Nếu đời tu của mình là theo "sát" Chúa Kitô thì cầu nguyện là lúc mình nhảy vào "ở trong" Ngài, là lúc tay mình thọc vào cạnh sườn đụng tới trái tim cho nó chảy ra dòng máu cứu độ. Nếu đời phục vụ của mình theo mẫu là Đức Kitô thì cầu nguyện là lúc mình đem so sánh xem bản copy với mẫu khác nhau chỗ nào. Nếu phục vụ phải có tiền, có sức khỏe, có trí thông minh thì cầu nguyện là lúc mình ở trong kho nhiên liệu, tha hồ đổ cho đầy mà chạy máy. Ngày xưa, Chúa Giêsu nói với các môn đệ ngài: "Cho đến rày, các con không xin gì nhân danh Thầy". Câu nói này có nghĩa là từ trước đến giờ các môn đệ khi cầu nguyện, xin xỏ điều này điều kia đều đứng "ở ngoài" Chúa Giêsu. Đứng ở ngoài là lẽ đương nhiên, vì các môn đệ có xẻ thịt Chúa Giêsu mà chui vào trong được đâu. Nhưng khi Chúa Giêsu phục sinh rồi thì khác. Không còn tường vách nào ngăn được Ngài, và ngược lại, ngay chính thân thể Ngài bây giờ là cái phòng ai chui vào cũng được. Ngài ở trong cả ngàn người rước lễ nhưng ai cũng có đầy đủ một Chúa Giêsu sống động trong mình chứ không phải chỉ có một miếng thịt. Và khi cầu nguyện ta có thể chui vào ngồi đâu đó trong 4 ngăn của trái tim Chúa ! Sau phục sinh mới có thể cầu nguyện "ở trong" Chúa Giêsu hay là "nhân danh" Chúa Giêsu như vậy được.

Nói đến cầu nguyện ở trong Chúa Giêsu mình lại nhớ nhà thờ, vì mọi người thường cầu nguyện ở trong nhà thờ. Trước Thượng hội đồng Dothái, Chúa Giêsu nói: "Phá đền thờ này đi, 3 ngày Ta sẽ dựng lại". Khi Chúa Giêsu nói như vậy, ta hiểu đền thờ là thân thể Chúa hay đền thờ làm bằng gạch đá cũng được. Cả hai đều đã bị phá hủy, cả hai đều đã lỗi thời. Nhà thờ mới đã được "dựng lại" chính là Đấng Phục Sinh, và bây giờ phải cầu nguyện trong đó mới là hợp thời, mới là chính đáng. Tác giả sách Khải Huyền viết: "Tôi không thấy có đền thờ, bởi vì đền thờ bây giờ là chính Chúa, Thiên Chúa toàn năng và Chiên Con, cũng không cần mặt trời mặt trăng chiếu sáng vì ánh sáng của nó bây giờ là vinh quang Thiên Chúa" (Kh 21,12). Mình còn nhớ câu chuyện ông Giacóp chiêm bao. Trên đường đi lẫn tránh Êsau, trong một giấc ngủ, Giacóp nằm mơ thấy một cái thang, chân thang dựng dưới đất nhưng đầu thang lại chạm tới trời, các thiên thần thì lên lên xuống xuống. Đức Chúa đứng ở đầu thang trên trời. Tỉnh giấc, Giacóp kinh hoàng nói: "Đây là nhà của Thiên Chúa, là cửa Trời". Ông đã dựng trụ đá làm dấu và đặt tên nơi ấy là "Bết Ên" nghĩa là Nhà Thiên Chúa. Trong Tin Mừng Gioan, Chúa Giêsu xác nhận chính Ngài là Bết Ên : "Quả thật. quả thật, Ta bảo các ngươi, các ngươi sẽ thấy Trời mở ra và các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người" (Ga 1,51).


Thuở xưa, vào ngày khánh thành đền thờ Giêrusalem, vua Salomon đã dâng một lời cầu nguyện tuyệt vời, lời cầu nguyện mà mỗi lần đọc nó mình đều cảm động, vì nó phải là lời cầu nguyện của mình là một tư tế van xin cho dân mình: "Xin nghe lời nài van của tôi tớ Ngài và của Israel dân Ngài dâng lên ở nơi đây ... Khi dân Ngài bị quân thù đánh bại, nếu họ cầu khẩn trong đền thờ này, thì từ trời xin Ngài lắng nghe ...Khi trong xứ có nạn đói, khi dịch bệnh, khi có thành nào đó của chúng con bị quân thù vây hãm, khi chỉ có một người hay cả toàn thể dân tộc chúng con giơ tay hướng về đền thờ này, xin Ngài đoái thương ... Ngay cả với ngoại kiều không thuộc về dân Ngài, nếu nó đến cầu nguyện trong đền thờ này, xin Ngài lắng nghe và thực hiện mọi điều kẻ ngoại kiều ấy kêu xin, để mọi dân trên mặt đất nhận biết Danh Ngài ... Khi dân Ngài xuất trận, họ giơ tay hướng về đây cầu nguyện, xin thương nhậm lời ... Khi dân Chúa xúc phạm đến Ngài, vì thật không người nào mà không phạm tội, khiến Ngài thịnh nộ trao họ vào tay thù địch. Khi kẻ chiến thắng đày dân Ngài biệt xứ, trên đất lưu đày họ giơ tay hướng về đền thờ xây kính Danh Ngài đây mà van xin thì xin Ngài thương xót, vì họ là dân, là gia nghiệp mà Ngài đã đưa ra khỏi lò nung sắt Aicập ..." Lời cầu nguyện xa xưa này của vua Salomon đã được Thiên Chúa nhậm lời, nhưng không phải là nhậm lời cho cái đền thờ của ông xây, Thiên Chúa đã bình địa nó rồi. Phải là đền thờ do chính tay Thiên Chúa xây mới được. Chúa Giêsu là đền thờ mới, là Đền Thờ mà nơi đó Thiên Chúa chuẩn y lời cầu nguyện hay tuyệt của nhà vua. Vì thế, Chúa Giêsu mới bảo rằng: "Chúa Cha sẽ ban cho chúng con mọi điều chúng con xin nhân danh Thầy" (Ga 15,20) nghĩa là Chúa Cha sẽ ban cho chúng con mọi điều chúng con xin khi chúng con "ở trong" Thầy, ở trong Đền Thờ mới. Vì thế, lời cầu nguyện nhân danh Chúa Giêsu chắc chắn được chấp nhận. Có thể Thiên Chúa sẽ ban cho mình cái tốt hơn cái mình xin, vì Thiên Chúa yêu mình thật. "Ở trong" tức là nên một với Chúa Giêsu thì hẳn là Chúa Cha phải đồng ý, vì nếu không thì Cha và Con không còn phải là một.

Biết rồi ! Nhưng bây giờ làm sao mình có thể chui vào thân mình Chúa Giêsu để cầu nguyện được ? Mình thắc mắc sao giống ông Nicôđêmô quá. Được chứ, Chúa Thánh Thần sẽ làm giúp mình chuyện đó. Người đã thành công đưa Chúa Giêsu vào đặt trong dạ Đức Mẹ kia mà. Ngôi Hai Thiên Chúa vĩ đại cả vũ trụ này không chứa nổi mà Chúa Thánh Thần còn đặt trong bụng Đức Mẹ được, cái bụng mà 9 tháng 10 ngày chỉ mới bằng cái nồi cơm điện chứ mấy. Không có gì Chúa Thánh Thần không làm được. Vậy Chúa Thánh Thần chính là Đấng đưa mình vào cầu nguyện thật. Thánh Phaolô là chuyên gia nhờ vả Chúa Thánh Thần làm chuyện này cho nên ngài đã chia sẻ kinh nghiệm: "Thần Khí đỡ đần tình cảnh yếu hèn của ta. Vì cầu xin thế nào cho phải ta nào có biết. Song chính Thần Khí chuyển cầu cho ta bằng những tiếng rên khôn tả" (Rm 8,26).

Cầu nguyện thì ai mà chẳng cầu. Vô thần ở đâu chứ vô thần Việt Nam mùng một ngày rằm vẫn khói hương nghi ngút. Dòng mình là dòng đi chơi với dân nghèo, vì thế đã có lúc mình để ý xem họ cầu nguyện thế nào để bắt chước. Mình hay đến Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Hà Nội, nơi tập trung đầy dân nghèo đến hành hương vào thứ bảy đầu tháng. Họ là dân quê có khi ở thật xa Hà Nội, họ là các anh xe ôm, các chị đi mua ve chai sắt vụn mà ở miền Bắc gọi là các chị đồng nát, họ là sinh viên từ miền quê ra trọ học ... Có lẽ 90% đến đây là để xin ơn, 10% còn lại đến để tạ ơn và xin tiếp ! Ca tụng, ngợi khen thật là điều phải làm đấy nhưng hình như người nghèo không quan tâm lắm. Chúa vốn là Đấng khiêm nhường cho nên nếu ca tụng vô tội vạ, lộ liễu như thế e có vẻ "bợ đỡ" quá chăng ? Hình như cái chuyện Chúa là Đấng cao vời khôn ví, có toàn quyền sinh sát trong tay, còn họ là hạng muỗi mòng bọ chét là cái chuyện đương nhiên, cả con người, cả cuộc sống của họ đã nói lên rồi, khỏi cần phải bàn tới nữa. Có lẽ họ khổ quá nên cái thúc bách sát sườn là xin, và xin một cách "sống sượng" không cần nhập đề kết luận gì ráo. Họ xin mà không cần biết có lý hay không có lý, không cần biết Chúa có đủ "tiền" cho hay không, và cũng bất biết đến chuyện Chúa cho mình thì người khác coi như tiêu tùng. Mình cũng học được vài chiêu cầu nguyện "Trời ơi" đó, bây giờ đã đạt đến mức chỉ có đọc kinh phụng vụ mới mở miệng ca tụng Chúa, còn cầu nguyện riêng thì chỉ có xin và xin, có khi vừa bước chân vào nhà nguyện là xin mà chưa kịp làm dấu. Chẳng biết như thế thì Chúa ưng hay không ưng cái bụng.

Các cha giáo vẫn dạy mình khi giúp đỡ người nghèo thì đừng có ra oai, khi chăm sóc họ thì đừng như bà lớn. Mình nghĩ rằng khi cầu nguyện cho họ mình cũng đừng như ông lớn. Không phải là cầu nguyện cho nhưng là cầu nguyện với. Lời cầu nguyện của một giáo hoàng không chắc có giá trị trước mặt Chúa bằng lời cầu nguyện của một kẻ tội lỗi, vì khi giáo hoàng cầu nguyện thì thiên đàng im re, còn kẻ tội lỗi cầu nguyện thì ran lên cả triều thần thánh. Nhưng nếu giáo hoàng cùng cầu nguyện với người tội lỗi thì gây ra sự cộng hưởng làm rung rinh chín cõi thiên đàng. Ai đọc những hàng này chắc bảo mình ba sạo. Ừ thì nói phét cũng được, nhưng xin hãy nhìn Chúa Giê-su đi, Thiên Chúa đã làm cho Con Một mình thành một tội nhân không ai có thể nặng tội hơn được, vì tội cả trần gian này chất vào đó. Như vậy rõ ràng là có một Ngôi Hai đứng trên nóc nhà trời nhập chung với một tội nhân nằm dưới đáy vực sâu thăm thẳm, cả hai cùng dâng lên lời cầu nguyện thì phát sinh Hồng Ân Cứu Độ. Ơn cứu độ ấy làm rung rinh 999 cõi thiên đàng !

Có nhiều người nghĩ rằng Thiên Chúa yêu thương, Thiên Chúa biết hết, cần gì phải cầu xin, mọi sự Chúa sẽ lo liệu tất, ta chỉ cần tạ ơn, ca tụng, ngợi khen là đủ. Mình nghĩ chắc họ đang sống ở thiên đàng, vì chỉ có ở thiên đàng mới suốt ngày đêm ca tụng tạ ơn Chúa. Thôi hãy để họ sống trên mây, còn mình thì đang "ở nơi khóc lóc than thở kêu khẩn Bà thương", đang bơi lè lưỡi trong cái bể khổ này. Chúa Giêsu có kể chuyện ông thẩm phán ác ôn và bà góa dai như giẻ rách. Nhìn thấy những người nghèo cầu nguyện mà không thấy hồi âm, mình không dám bảo Chúa là ông thẩm phán ác ôn nhưng xin Chúa cho họ và cho mình nữa, lì mặt như bà góa không còn gì để mất ấy.

Khi còn ở trần gian này Chúa Giêsu cũng thường xuyên xin, xin Chúa ban ơn đã đành có khi còn xin người ta gíup đỡ nữa: xin nước người phụ nữ Samari, xin cơm ông Giakêu ... Khi gặp cảnh đau khổ cùng cực, Ngài cũng "lớn tiếng kêu van cùng nước mắt" như mọi người nghèo. Hầu hết những lời cầu nguyện của Chúa Giêsu được ghi lại trong Tin Mừng đều là những lời xin. Thánh Luca có 3 dụ ngôn về cầu nguyện: người bạn quấy rầy, biệt phái và thu thế, ông thẩm phán ác ôn và bà góa, thì cả đều nói về xin. Riêng dụ ngôn ông thẩm phán và bà góa đã mở đầu thế này: Ngài kể cho họ một dụ ngôn để bảo họ phải cầu nguyện luôn không bao giờ được dứt. Như vậy có nghĩa là Chúa bảo họ phải giống như bà góa kia, xin xỏ triền miên không chấm dứt. Chúa Giêsu đi giảng 3 năm chỉ dạy cho người ta một kinh duy nhất. Kinh Lạy Cha toàn là xin, tất tần tật từ đầu đến cuối. Câu kết thúc của kinh thánh là lời xin Maranatha, lời ấy như muốn nói rằng từ bây giờ cho đến tận thế sẽ vang vọng mãi một lời xin. 


Thân phận con người vốn yếu đuối, đi xưng tội lần nào cũng có những tội bỏ hoài không bỏ được: ngoại tình, quan hệ trước hôn nhân, đánh bài. chích hút ...Đứng lên ngã xuống bao nhiêu lần mới nghiệm ra một điều là mình vô phương chống cự, mà chỉ còn cách cầu xin Chúa ra tay cứu giúp. Sức con người không thể chừa được nhưng có gì là không được đối với Thiên Chúa ? Khi mình khiêm tốn nài xin, mình sống đúng cái phận ngjhèo, đúng phận tội nhân, đúng thân phận lữ khách đang mãi miết về quê. Đôi khi mình quên mất Thiên Chúa là Đấng thích ban tặng, vì thế xin là bác ái với Chúa. Nếu chỉ có ca tụng, ngợi khen, cầu nguyện vô vị lợi mà thôi thì Chúa sẽ mất công ăn việc làm.

Mình cũng gặp nhiều nàng đệ tử dòng tu áy náy khổ tâm vì không giữ được lời hứa với Chúa mỗi ngày cầu nguyện một giờ. Mình bảo: sao không bớt xuống còn 10 phút thôi cho dễ giữ. 10 phút cũng được nhưng phải trung thành, đó mới là điều quý giá. Khi thằng quỷ đánh đu trên mi mắt mà vẫn trung thành thì mới thật là hay. Sống đời tu hay đôi bạn đều phải trung thành cho đến chết, vậy hãy tập trung thành với 10 phút cầu nguyện mỗi ngày đi.

Nhiều chàng đệ tử hỏi mình phương pháp cầu nguyện. Mình hỏi lại: thế thì về nhà, em nói chuyện với bố có phương pháp không ? Hẳn là không. Nếu bố mình mà biết mình nói chuyện với ông có phương pháp đàng hoàng chắc ông cười no bụng, hoặc ông sẽ nẹt cho: "Với bố mày mà mày cũng đóng kịch à !" Thú thật, mình trò chuyện với Chúa có theo phương pháp nào đâu, đứng ngồi nằm quỳ Chúa đều OK cả, không thấy Chúa phản đối gì. Các cha giáo mắng thì con xin chịu, đọc sách dạy phương pháp cầu nguyện oải lắm ! Có phương pháp chăng đó là: nói một mình hoài cũng chán, cầu nguyện thì cả hai phải nói chứ, mình nghe Chúa nói bằng cách đọc Kinh Thánh, đọc từ đầu đến cuối, sách này sách kia, tắt một lời, đọc chỗ nào cũng được, thế thôi.

Ngày xưa, khi ông Môsê ở trên núi Sinai xuống, dân chúng không dám nhìn mặt ông, vì mặt ông sáng quá. Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Vì ở gần Thiên Chúa nên mặt ông Môsê mới thay đổi như thế. Anh hay chị nào muốn có khuôn mặt vừa đẹp vừa thánh thiện, xin hãy cầu nguyện, chẳng cần đi bác sĩ thẫm mỹ đâu.

Luật độc thân linh mục



Thứ bảy 18-2, Niên Giám 2006 của Tòa Thánh được Đức Hồng Y Angelo Sodano - Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh - trình lên Đức Thánh Cha Biển-Đức 16.

Theo Niên Giám 2006, số Linh Mục trong Giáo Hội Công Giáo tiếp tục gia tăng. Tính đến cuối năm 2004 có 405.891 Linh mục: 1 phần 3 là Linh Mục dòng và 2 phần 3 là Linh Mục giáo phận.

Số phó tế vĩnh viễn liên tục gia tăng từ 25 năm nay. Trong năm 2004, Giáo Hội Công Giáo có hơn 32.300 thầy. Sự gia tăng mạnh nhất tại Bắc Mỹ với 47,3% và Âu Châu 32,3%.

Số ứng sinh Linh Mục cũng gia tăng. Năm 2004, Giáo Hội Công Giáo có 113.044 chủng sinh triều và dòng.

Trước đó, có người cho rằng sở dĩ con số Linh Mục giảm sút vì lý do luật độc thân quá khe khắt của Giáo Hội Công Giáo. Đó cũng là luận cứ của đức cha Jacques Gaillot, vị giám mục cấp tiến của Giáo Hội Công Giáo Pháp.

Nhưng các tín hữu giáo dân nghĩ khác. Chính họ vừa hiểu rõ cái khó khăn cuộc sống độc thân Linh Mục vừa tha thiết với lý tưởng độc thân. Sau đây là chứng từ của bà Francoise Lucrot, giáo dân Pháp. Bà viết:

Để tránh khủng hoảng ơn gọi Linh Mục, không phải dẹp bỏ luật độc thân. Trái lại, phải tạo bầu khí thuận lợi giúp các Linh Mục trung thành với ơn gọi độc thân. Làm Linh Mục không giống bất cứ nghề nghiệp nào. Ơn gọi Linh Mục trước tiên đến từ THIÊN CHÚA, và khi đáp lại ơn gọi này, là đáp lời mời gọi trở thành Linh Mục của Ngài.. Cộng đoàn dân Chúa tha thiết với đời sống độc thân của các Linh Mục. Họ cảm thấy đau đớn khi nhìn thấy các Linh Mục bỏ rơi nếp sống độc thân để lập gia đình, lấy vợ. Đối với tín hữu giáo dân, sự bất trung của các Linh Mục thường gắn liền với việc các Linh Mục đánh mất Đức Tin trong đời sống.

Khi nhìn sang các Giáo Hội Kitô khác như Tin Lành, Anh Giáo và Chính Thống, trong đó các mục sư và linh mục được phép lập gia đình, người ta nhận ra bao vấn đề nhiêu-khê, đặc biệt là chỗ đứng của các bà, hiền thê của các vị mục sư! Nhiều bà tranh đấu cho chồng được địa vị cao. Có bà không muốn theo chồng về làm việc mục vụ tại các vùng quê hẻo lánh, vì muốn ở lại thành phố để tiếp tục sự nghiệp của các bà!

Với tất cả khó-khăn cản-trở ”vô ích” trên đây, người ta thấy rằng, Giáo Hội Công Giáo quả thật có lý khi cương quyết bảo vệ luật độc thân Linh Mục! Giáo Hội không ngừng lập lại giáo huấn về luật độc thân Linh Mục cũng y như Giáo Hội luôn luôn nhắc nhở các đôi vợ chồng phải sống trung tín cho đến hơi thở cuối cùng, vì tính chất thánh thiêng của hôn nhân vậy.

Trước các đe dọa cuộc sống độc thân Linh Mục, hơn bao giờ hết, chúng ta - tín hữu giáo dân - phải làm hết sức để nâng đỡ các Linh Mục bằng tình thương huynh đệ của chúng ta. Hãy làm cho các ngài cảm nhận được rằng chúng ta cảm thông với các ngài và các ngài thật cần thiết cho cuộc sống thiêng liêng của chúng ta, y như không khí cần cho cuộc sống con người vậy! Chúng ta ghi nhớ rằng:

- Linh Mục là Đức Chúa GIÊSU KITÔ hiện diện giữa chúng ta.

Chúng ta hãy tỏ lòng ghi ơn trước sự trung-thành, trước sự kiên-vững trong ơn gọi độc thân của các Linh Mục. Hãy mời các ngài đến dùng bữa chung với gia đình chúng ta. Hãy trìu mến vui vẻ tiếp đón các ngài. Đừng để các ngài quá cô đơn. Hãy nâng đỡ ủi an các ngài, chắc chắn các ngài sẽ tri ân chúng ta và THIÊN CHÚA sẽ trả công cho chúng ta cách bội hậu. Thảm kịch đe dọa các Linh Mục ngày nay, không phải nếp sống độc thân cho bằng nếp sống cô đơn của các ngài. Bổn phận chúng ta - tín hữu giáo dân - là yêu thương chăm sóc và nâng đỡ các ngài, bằng tình thương thảo hiếu của chúng ta.

... Đừng phó mặc hồn con cho một người đàn bà, kẻo bị nó đè đầu đè cổ. Đừng đón đường một gái làng chơi, kẻo con rơi vào bẫy của nó. Đừng đi lại với một ả-đào, kẻo con mắc phải mưu mô của nó. Đừng chòng chọc nhìn cô trinh nữ, kẻo con sa ngã mà bị phạt với nàng. Đừng trao thân cho đĩ-điếm, kẻo con phải khuynh gia bại sản. Ngoài đường phố, mắt đừng láo liên, trong ngõ hẽm, chớ có la cà. Hãy tránh đừng nhìn phụ nữ nhan sắc, cũng đừng ngắm nghía một giai nhân xa lạ. Vì sắc đẹp đàn bà mà bao kẻ đảo điên, cũng vì thế mà ái tình bừng lên như lửa. Chớ ngồi bên phụ nữ có chồng, đừng uống rượu với nàng trong các bữa tiệc, kẻo vì nàng mà lòng con nghiêng ngửa, và tâm thần chao đảo tiêu vong (Huấn Ca 9, 2-9).

Ý nghĩa độc thân Công Giáo



Chị Annette thân mến.

Hôm qua, nơi chỗ làm việc, chị bất ngờ hỏi tại sao tôi chọn nếp sống độc thân. Bầu khí ồn ào không cho phép tôi trả lời đầy đủ về một vấn đề nghiêm trang như vậy. Có thể đây là vấn đề vượt ngoài ý tưởng của chị! Bởi lẽ chị thấy tôi là người bình thường như bao đàn ông khác. Ngoài ra tôi còn nhã-nhặn và tế-nhị khi cư xử với phụ nữ, đồng thời biết chiêm ngắm nét đẹp của nữ giới. Vậy tại sao tôi lại chọn nếp sống độc thân ? Chị thắc mắc như thế. Tôi cố gắng giải thích, nhưng không chắc chị hiểu được không. Bởi vì, để hiểu rõ nếp sống độc thân của tôi, chị cần phải chia sẻ cùng một niềm tin Công Giáo như tôi. Đối với tôi, độc thân không phải là một thiếu sót. Cũng không phải là một ích kỷ, chỉ sống cho riêng mình. Trái lại là đàng khác.

Tôi xin nói ngay lý do nào thúc đẩy tôi chọn lối sống độc thân. Đó là vì một khuôn mặt đã thu hút tôi. Khuôn mặt này trổi vượt trên mọi khuôn mặt thanh thiếu nữ mà tôi hân hạnh được gặp và quen biết trong cuộc đời. Đó là khuôn mặt của Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Đối với tôi, Đức Chúa GIÊSU KITÔ là Khuôn Mặt của THIÊN CHÚA Cha nơi trần gian. Ngài chiếm đoạt tôi và tôi say mê Ngài. Tôi đi theo Ngài cho đến ngày hôm nay và sẽ mãi mãi theo Ngài cho đến giây phút cuối đời. Vì Ngài mà tôi từ bỏ tất cả. Xin chị tin lời tôi và đừng đùa cợt đối với một vấn đề mang tầm mức siêu việt ..

Dĩ nhiên tôi chưa từng thấy Ngài cũng chưa nghe tiếng Ngài. Và những biểu lộ trìu mến của Ngài thường rất hiếm hoi. Phải nói Ngài là người bạn đường rất dè dặt và ít nói. Nhưng tôi chắc chắn Ngài yêu tôi, như thể chỉ có mình tôi trên cõi đời này. Đôi lúc trong cuộc sống, tôi cảm nghiệm được tình yêu này. Và những lúc đó hồn tôi hân hoan vui sướng như sống tuần trăng mật.

Hôm qua chị hơi đi quá vào đời tư của tôi. Tuy nhiên tôi không chấp chị về điểm này. Trái lại tôi xin thẳng thắn trả lời cho chị rõ. Tôi có thể thú nhận với chị là tôi đã từng cảm nghiệm thế nào là tình yêu nam nữ. Do đó tôi có thể quả quyết với chị rằng, nếu tôi chưa kinh nghiệm thế nào là tình yêu nam nữ, thì có lẽ là tôi là một người đàn ông không bình thường..

Cuộc đời đưa đẩy khiến tôi có nhiều dịp tiếp xúc với nữ giới, gần gũi thân mật với họ và làm việc chung với họ, nơi xưởng làm hoặc qua các công tác bác ái tông đồ. Nhiều phụ nữ cùng nhóm thiện nguyện với tôi, cũng chia sẻ nếp sống độc thân như tôi. Họ chọn lựa sống độc thân vì tình yêu dành riêng cho Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Trong số các phụ nữ tận hiến cho Chúa, tôi quen biết đặc biệt một cô. Chúng tôi rất hợp tính hợp ý và trao đổi cho nhau một tình bạn chân thành, giống như tình bạn giữa chị và tôi hôm nay vậy.

Theo giòng thời gian tình bạn lớn mạnh, yêu thương hơn, trìu mến hơn. Và giả như không có lời đoan hứa giữ mình trinh khiết, hẳn chúng tôi đi đến hôn nhân rồi. Nhưng cả hai chúng tôi đều không dừng lại ở tình yêu nam nữ ấy, vì chúng tôi không muốn phản bội Đức Chúa GIÊSU KITÔ, Đấng mà mỗi người chúng tôi tự ý chọn lựa như là hiền-phu hiền-thê duy nhất của lòng mình. Dĩ nhiên quyết định trung tín với lời hứa độc thân không phải dễ. Chúng tôi đã phải trả bằng nước mắt và bằng con tim rướm máu! Nói thế để chị hiểu rằng tôi không phải là thiên thần, cũng không phải là vị anh hùng. Trái tim tôi cũng bằng thịt y như trái tim chị. Và THIÊN CHÚA là Tình Yêu hiểu rõ chúng ta hơn bất cứ ai trên trần gian.

Tôi ước mong tình bạn giữa chúng ta ngừng lại nơi tình anh em, để chị không phạm tội phản bội chồng và tôi không phạm tội phản bội Đức Chúa GIÊSU KITÔ, Người Tình Chí Thánh của tôi. Tôi cũng xin tâm sự với chị là, sức mạnh giúp tôi trung tín với Chúa cho đến ngày hôm nay, chính là sức mạnh tôi kín múc nơi Bí Tích Thánh Thể mỗi ngày, trong cuộc đời tôi.

Ký tên, Pierre.

(Charles Lepetit, ”MES AMIS LES PAUVRES”, Nouvelle Cité, Paris 1984, trang 178-181)

Chủ Nhật, 3 tháng 1, 2016

GIA ĐÌNH TIẾP CẬN KINH THÁNH

1. Giúp giáo dân tìm hiểu Kinh thánh
Triết học kinh viện nói: "Không ai cho cái mình không có" và tục ngữ Việt Nam cũng nói tương tự: "Hữu xạ tự nhiên hương". Muốn giúp cho giáo dân hiểu Kinh Thánh thì công việc trước tiên của các linh mục, tu sĩ hiện nay là trở về với Kinh Thánh, bằng cách tham dự các buổi hội thảo Kinh Thánh, học lại, tự mình nghiên cứu. Chắc hẳn có những điểm hay những vấn đề Kinh THánh đã quên hay chưa hiểu rõ nên linh mục cần xem lại những điều ghi chép hồi xưa, hay xem lại những tập giáo trình cũ. Và nhất là nghiền ngẫm Kinh Thánh. Tuy gặp phải bất tiện là không có đủ sách hay không tìm được sách để đọc hoặc có sách nhưng không có thời gian vì công việc bề bộn.

Hiện nay, có mấy cuốn sách bằng tiếng Việt, các linh mục có thể đọc rồi giới thiệu cho giáo dân như:
Dẫn vào Tin mừng, Tìm hiểu Cựu Ước, Lắng nghe lời Chúa, Đọc Kinh Thánh, đọc như thế nào? Tìm hiểu Sáng thế 1 - 11, Tìm hiểu thư Thánh Phaolo và Khải huyền, Thánh Phaolo, con người và sứ điệp, Dẫn vào Tân Ước: Tin Mừng Nhất Lãm, Đọc Tin Mừng theo thánh Mat-theu, Đọc Tin Mừng theo Thánh Macco, Đọc Tin Mừng theo Thánh Luca, Đọc Tin Mừng theo Thánh Gioan, Chú giải Phúc Âm Chúa Giesu năm ABC, Biểu lãm các thư Thánh Phaolo, Dẫn vào Tân Ước: Tin Mừng Thánh Gioan, Vinh quang Thập giá, Vấn đề soạn thảo các Phúc Âm, Đọc sách Khải huyền, Đức Kito, tư tưởng và hành động của Người.

2. Trình bày, giảng dạy
Trình bày, giảng dạy lại cũng tuỳ loại, tuỳ người, Có loại phổ thông dành cho mọi người lớn bé già trẻ - loại này vừa dễ lại vừa khó: dễ vì nội dung đơn sơ, gồm những điều cốt yếu, nhưng khó vì phải nói cho đủ mọi hạng người, nói sao cho ai cũng hiểu được. Nếu có thể chia ra thành từng loại như người lớn, thanh niên, thiếu nữ, thiếu niên, nhi đồng thì rất hay. Bằng không thì đành phải nói chung cho mọi người thuộc đủ lứa tuổi về những điều căn bản như: Kinh Thánh là gì, Kinh Thánh nói những gì cho ta? Tại sao ta lại phải tìm hiểu và quí trọng Kinh THánh. Kinh Thánh có thể sai lầm được không?
Ngoài ra là loại dành riêng cho một số người hạn chế, gồm những người tình nguyện và có trình độ hiểu biết tương đối khá, để họ học rồi có thể truyền lại cho người khác. Với nhóm người này, cần nói kỹ, nói sâu về mỗi đề tài hay từng cuốn sách trong một thời gian liên tục kéo dài, tuỳ xu hướng và khả năng đón nhận của họ.

- Giảng trong thánh lễ: bài giảng phải đi sát với lời Chúa nhiều hơn thay vì chỉ lấy một câu rồi tán rộng ra, rồi đề cập đến mọi vấn đề cụ thể trong giáo xứ hay nói lại một vài tin tức thời sự đọc trong báo rồi ráp vào lời Chúa. Nhiều giáo dân nói rằng đến nhà thờ để được nghe diễn giải nghĩa lý của lời Chúa, chứ đâu có cần nghe thời sự hay chính trị.
- Dạy giáo lý: phải chú trọng đến Tin Mừng nhiều hơn, liệu sao cho trẻ em làm quen và thuộc Tin Mừng, thay vì chỉ học thuộc lòng những câu hỏi câu thưa trong sách giáo lý. Từ chỗ nghe đọc và thuộc Tin Mừng, dần dà trẻ em sẽ cảm thấy cần phải biết và thuộc Tin Mừng để sống đạo.
- Đọc các giờ kinh Phụng Vụ: 
Đọc một phần các giờ kinh Phụng Vụ, đặc biệt là Kinh sáng và kinh chiều. Nối đọc được cả Kinh Sách nữa thì càng hay vì trong đó có bài đọc của các Giáo phụ và nhất là Kinh Thánh. Nhờ đọc các giờ kinh này, giáo dân được làm quen với lời Chúa trong các thánh vịnh và các đoạn trích Kinh Thánh Tân - Cựu Ước. Các anh chị em đó sẽ thấy rằng lời Chúa thật là thấm thía, thích hợp cho mọi cảnh đời và có sức khơi gợi lên những tâm tình cầu nguyện phong phú.

3. Khuyến khích và thúc đẩy giáo dân học Kinh Thánh
Các linh mục có trách nhiệm từ tốn, kiên nhẫn diễn giảng lời Chúa trong thánh lễ hàng ngày và nhất là Chúa Nhật, dưới hình thức đơn sơ, thân tình. Làm thế nào cho giáo dân chú ý theo dõi lời Chúa trong phụng vụ thánh lễ bằng cách làm nổi bật những bản văn Kinh THánh, tập trung sức chú ý của giáo dân vào các bản văn phụng vụ. Chú ý không để cho hát những bài không ăn nhằm với ý nghĩa của các bài ca nhập lễ, đáp ca, hiệp lễ hay toàn bộ thánh lễ cử hành hôm đó. hát là hát lễ, chính nội dung của buổi lễ cử hành chứ không phải chỉ là hát trong lễ và hát bất cứ bài nào cũng được, chẳng kể chi đến vị trí và vai trò của từng bài ca, vì mỗi bài nhập lễ, đáp ca hay hiệp lễ đều có nội dung và tác dụng riêng nên phải hát cho xứng hợp với từng loại bài ca và thể hình âm nhạc. Ví dụ nhập lễ phải tạo ra bầu không khí dẫn đưa vào ý nghĩa buổi lễ ngày hôm đó, đáp ca phải là đối đáp giữa ca đoàn hay ca xướng viên với cộng đoàn và có tính nghiền ngẫm, suy niệm đáp lại lời Chúa vừa mới nghe trong bài đọc, hiệp lễ phải là kết hợp tâm tình của người rước lễ với Đấng vừa đón nhận. Ngoài ra là chọn người đọc các bài sách thánh, vì không phải bất cứ ai đọc cũng được mà phải là người có cung giọng, đọc cho người ta nghe rõ, có khả năng phân câu dứt ý cho người ta hiểu. Cuối cùng là diễn giảng các bản văn trong thánh lễ. Không buộc phải diễn giảng hết mà chỉ cần một vài điểm chính và thích hợp lấy ra từ chính các bản văn Kinh Thánh trong lễ, chứ không phải đề tài nào ở bên ngoài không có liên lạc gì với lời Chúa trong buổi lễ hôm ấy.

Về phạm vi ngoài thánh lễ, cần tổ chức các buổi đọc kinh gia đình hoặc một nhóm ít người tại các buổi học giáo lý để cùng nhau chia sẻ lời Chúa, trực tiếp đọc sách Thánh. Mới đầu, có thể họ không hiểu và lấy làm nhàm chán. Vì thế, phải có người hướng dẫn và giúp họ tập đọc ít lâu trước, bằng cách chỉ cho họ thấy ích lợi và giá trị của những lời trong sách Tin Mừng, cũng như cách áp dụng những lời ấy vào đời sống vì lời Chúa luôn có tính hiện thời và hợp cho mọi hoàn cảnh. Cụ thể như có một số gia đình đã làm là rút vắn các kinh lại và thay vào đó bằng một đoạn lời Chúa, rồi cả gia đình ngừng lại đôi ba phút để suy nghĩ và cầu nguyện theo những lời đó.

Có một số linh mục đã tổ chức các buổi hội thảo Kinh Thánh, lấy các đoạn Tin Mừng hoặc chọn một đề tài thích hợp với mùa phụng vụ (sám hối, phục sinh...). Đồng thời kèm theo các bài tóm tắt phân phát cho thính giả sau buổi học, tham chiếu các đoạn trích dẫn Kinh Thánh.

Để làm được những điều này cần sự nỗ lực không ngừng từ cả hai phía.



























Thứ Bảy, 2 tháng 1, 2016

4 ĐIỀU CHIA SẺ VỚI TÂN LINH MỤC

1. Coi chừng nguy cơ sống bám vào cái hào quang bề ngoài
Sau khi chịu chức linh mục, anh em đã về dâng lễ tạ ơn tại giáo xứ mình và một vài nơi khác. Trong những dịp này và suốt thời gian qua, anh em đã nhận được biết bao lời chúc mừng và ca tụng. Chắc anh em đã trực tiếp cảm nghiệm được lòng tôn kính của người dân đối với linh mục lớn lao thế nào. Vì tôn kính linh mục, người ta cũng rất kính trọng các bậc sinh thành của linh mục mà họ tôn lên thành "ông bà cố" - một điều mà chắc các cha mẹ nào cũng mơ ước. Nhưng anh em cũng hiểu rằng trong văn hoá Việt Nam vốn còn mang đậm ảnh hưởng của Nho giáo, lòng tôn kính đó xuất phát từ một phần của đức tin nhưng trước mắt từ cái nhìn tự nhiên về chức vụ linh mục như một thứ bậc, một chức tước xã hội.

Nhưng chúng ta cần tỉnh táo để đừng rơi vào chước cám dỗ, sống bám vào hào quang xã hội trùm lên mình hoặc bám vào ánh hào quang của chức vụ linh mục hơn là sống bằng thực chất và uy tín tinh thần mà chính mình tạo ra nhờ cố gắng sống đời linh mục như lòng Chúa muốn. Cám dỗ này là có thật khi một con người cũng bình thường như chung chung mọi người thôi, nhưng chỉ sau một lễ truyền chức bỗng chốc thấy mình được "tăng giá" trước mặt xã hội, giống như một khu đất bình thường được tăng giá gấp nhiều lần sau khi có một con đường lớn chạy qua.

2. Luôn ý thức về sự bất xứng của chúng ta đối với sứ mạng cao cả được giao phó
Linh mục được sai đến với một nhân loại khổ đau và bị tổn thương, nhưng chính mình cũng mang thương tích của tội lỗi. Chúng ta được sai đi cứu vớt, trong lúc chính mình cũng cần được cứu vớt. Chúng ta thánh hoá người khác và loan báo Tin mừng cho người khác, mà chính chúng ta cũng phải được thánh hoá và được Phúc Âm hoá. Có một sự chênh lệch lớn lao giữa chúng ta là "phương tiện" tầm thường Chúa dùng và "mục đích" cao cả mà Chúa đặt ra cho sứ mạng linh mục. Ta phải luôn luôn giữ cho sống động cái ý thức về sự chênh lệch này để đừng quên nỗi cùng khổ, sự yếu hèn và bất xứng của chúng ta.

3. Đừng trở thành những linh mục công chức
Nói theo ngôn ngữ kinh tế, người linh mục "vào nghề" với một cái vốn quá lớn và luôn được bao cấp. Cái vốn lớn đó, chính là thánh chức linh mục, là ân sủng của chức vụ linh mục. Linh mục hành động không những nhân danh Chúa Kito mà còn là trong chính vị trí Chúa Kito, như chính Người hành động. Trong hành động riêng của chức vụ, linh mục làm gì, làm thế nào rồi cũng "thành sự" cả. Về mặt này, ông linh mục mới toanh hay ông linh mục đã thi hành chức vụ lâu năm, ông linh mục trẻ hay ông linh mục già, ông linh mục đạo đức hay ông linh mục kém cỏi... cũng hoàn toàn như nhau. Phero rửa tội nhưng chính Đức Kito rửa rội, Giuda rửa tội nhưng là Đức Kito rửa tội. Nói "Linh mục "hành nghề" luôn được bao cấp" là như thế đó. Có Chúa Giesu bao cấp cho rồi, linh mục "hành nghề" mà khỏi lo lỗ lãi chi cả, điều cốt yếu luôn được bảo đảm.

Thực tế này chất chứa một số nguy cơ cho người linh mục. Chẳng hạn nguy cơ làm các công việc bổn phận của mình, từ quản trị đến phụng tự một cách máy móc, vô hồn hay cứng cỏi; nguy cơ biến mình thành công chức của một cơ chế thay vì sống như một người môn đệ trung thành của Chúa và người mục tử tốt lành đối với cộng đồng dân Chúa, hoặc nguy cơ không còn thấy cần phải nỗ lực thường xuyên để hoàn thiện mình về mặt thiêng liêng và chuyên môn nữa.

4. Luôn luôn nuôi dưỡng sống động tinh thần truyền giáo
Ngày nay, chúng ta phải đổi cách nhìn về Giáo Hội. Cái nhìn nào mà phải thay đổi? Đó là cái nhìn quen thuộc và phổ biến "hướng vào nội bộ Giáo Hội" thay vì hướng mở ra bên ngòi tới thế giới bao quanh, tới những môi trường, những con người xa lạ với Chúa để đem Tin mừng đến cho họ. Cái nhìn hướng nội không phải là sai nhưng phiến diện và có nguy cơ làm cho người ta mãn nguyện về những thành tích đã đạt được. Nếu thay đổi cách nhìn, chúng ta sẽ thấy mọi sự không phải là tốt đẹp cả đâu và Giáo Hội còn nhiều vấn đề, nhiều thách thức. Chẳng hạn, có bao nhiêu người lớn nhập đạo hằng năm không phải vì lí do lập gia đình nhưng nhờ gương sáng đời sống hoặc nhờ lời rao giảng của người Kito hữu? Ít lắm! Đời sống đạo mà chúng ta đang rất hãnh diên có tác động tích cực nào ra bên ngoài ranh giới của các giáo xứ, các đoàn thể công giáo hay các dòng tu? Cũng kém lăm! Giữa đời sống văn minh giàu có của Sài Gòn và đời sống dân chúng ở vùng cao nguyên là một vực thẳm cách biệt. Thật lo lắng với đà phát triển vật chất đang diễn ra, liệu sẽ còn mấy ai sẵn sàng đáp lại ơn gọi tu sĩ và linh mục? E rằng chỉ còn mấy người "quê mùa" và "nghèo khó" mà thôi.

Chúng ta ngày nay phải có sự thao thức truyền giáo, phải luôn luôn nuôi dưỡng ý thức loan báo Tin mừng trong mọi công việc chúng ta làm và môi trường chúng ta sống. 



























NHỮNG ĐIỀU SUY NGHĨ

- Người ta thuộc rất nhiều kinh và khi cầu nguyện thường đọc kinh, và dường như họ chỉ biết đọc kinh để cầu nguyện.
- Cảm giác hình như người ta được nghe nói về Đức Mẹ nhiều hơn Chúa và họ biết Đức Mẹ kỹ hơn biết Chúa. Bởi vậy, trong lối hành đạo, họ dễ làm cho người bên ngoài nghĩ rằng họ kính mến Đức Mẹ hơn Chúa. Nên cần tổ chức những buổi hội thảo, những bài thuyết trình về lời Chúa, về lòng sùng kính Đức Mẹ đích thật, dựa vào chương VIII trong Hiến chế Ánh sáng muôn dân của Công đồng Vaticano II và Tông huấn Tôn sùng Đức Mẹ Maria của DGH Phaolo VI. Đành rằng nhiều người không quen và không thích những gì hơi đòi hỏi một chút trong sinh hoạt tinh thần dù là để đạt tới trình độ cao và sâu hơn trong sự hiểu biết.
- Phải có thêm những lúc yên ắng để khách hành hương được thư giãn và có thể suy nghĩ cầu nguyện riêng. Nếu cứ phải nghe loa phóng thanh hoài thì thật là một cực hình cho trí não. Đàn hát ồn áo lớn tiếng quá không giúp cầu nguyện. Nhạc công tránh những lối đệm bay bướm theo kiểu nhạc tụ điểm và nhạc phòng trà quá ồn ào chát chúa
- Nên lưu ý đến cách dùng máy vi âm cho thành thạo: điều chỉnh giọng nói cao thấp, to nhỏ sao cho vừa đủ dễ nghe. Như thế sẽ làm cho thính giả đỡ mệt và có hứng thú nghe hơn.
- Trong những kì Đại hội – nơi tập hợp quần chúng lý tưởng cho những câu tung hô hooisd dáp trong phụng vụ. Nếu các câu Đáp ca, Tung hô Tin mừng cũng như Lời nguyện giáo dân ngắn hơn, dễ hát hơn và âm vực không quá cách nhau, lại được tập trước mỗi buổi lễ thì việc của hàng chắc chắn sẽ tăng thêm hiệu lực. Cứ nghe những bài hát quen thuộc “Lạy Mẹ là ngôi sao sáng…” khi được cả biển người cùng hát đã thấy tác động của chúng như thế nào rồi.

“TREO CHÉN”

Treo chén nói nôm na của linh mục cũng giống như một bác sĩ bị rút bằng hành nghề, hay một tài xế bị thu hồi bằng lái và còn hơn thế nữa… Vậy dưới góc độ cũng là linh mục, cần có thái độ như thế nào?

Trước hết là đáng buồn cho các đương sự. Họ sẽ thấy mình bị bơ vơ và suy sụp tinh thần, hay buồn phiền chán nản mà đi lang thang đây đó. Ngoài ra là mặc cảm với anh em linh mục và giáo dân. Có nhiều phản ứng của các linh mục dành cho vấn đề này như:
- Buồn phiền, bực bội và chê trách các đương sự như “con sâu làm rầu nồi canh” và cảm thấy mình như bị mang tiếng lây. Điều này rất tự nhiên.
- Nhưng nếu để phản ứng đầu tiên bộc phát qua đi, sẽ thấy cần phải bày tỏ tình thương và sự liên đới cho các anh em đó, mà không nên xa lánh như xa lánh những người mắc bệnh phong cùi.
- Đồng thời nâng đỡ để cho các anh đó suy nghĩ lại, vì những hành vi của mình mà sửa chữa lại.
- Nhân dịp này chỉnh đốn lại hàng ngũ. Một số linh mục bị mang tiếng về việc xin tiền, còn một số khác bị chê bai về tinh thần trách nhiệm và tác phong linh mục. Chúa dạy chúng ta rằng: “Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết, còn chúng ta, những người theo Chúa thì hãy lo loan báo triều đại của Người”. Hãy để thế gian lo việc làm ăn buôn bán, còn chúng ta, những người của Chúa, chúng ta có những công việc khác phải làm, mà chính yếu là loan báo Tin Mừng dưới nhiều hình thức.

ẢNH HƯỞNG CỦA TRUYỀN GIÁO QUA LỐI SỐNG CỦA LINH MỤC

Đã có bao giờ người Công giáo chúng ta nghĩ và đặt ra câu hỏi: "Tại sao đạo của chúng ta chặt chẽ và qui củ như vậy, tại sao nhiều nhà thờ của chúng ta khang trang đẹp đẽ, tại sao các đoàn thể của húng ta vui vẻ sầm uất, tại sao các lễ nghi trong các nhà thờ của chúng ta đẹp mắt như thế, mà số người vào đạo chẳng được bao nhiêu? Ấy là chưa kể đến những hoạt động từ thiện hay cứu trợ trong những đợt thiên tai hỏa hoạn đấy! Tại sao thế?"
Nhưng thực tế không phải vậy đâu, e rằng tình trạng "đi lễ nhà thờ vẫn đông, đi kiệu đi rước sầm uất, siêng năng đọc kinh, xưng tội, rước lễ, lắm người đi tu..." không biết còn kéo dài được bao lâu nữa, khi nền kinh tế chung của đất nước phát triển đồng đều và khả quan hơn.Tại sao tất cả những cái hay trên chưa đủ sức thu hút người ta vào đạo?

Có lẽ vì thế nên Hội thánh mới phải luôn nhắc nhở và đôn đốc việc truyền giáo. Nói đến truyền giáo thì người ta thường hay nghĩ đến việc đi đến và ở giữa những người ngoài công giáo. Ở giữa họ để sống và làm chứng. Hiện đang có những anh chị em của chúng ta ở những vùng sâu vùng xa, bên cạnh đồng bào không phải công giáo. Nhưng truyền giáo không nguyên chỉ có nghĩa là đi xa mà còn là ở gần, ở giữa và ngay tại quê hương xứ sở hay nơi mình đang sinh sống, làm việc.
Phần đông các linh mục hiện nay lo công việc mục vụ trong các họ đạo, nên khó làm được việc truyền giáo ở mặt ngoài. Vì thế, phải chú trọng đến mặt bên trong nhiều hơn. Đó chính là thái độ đối với những người ngoài công giáo và cách sử dụng tiền bạc xây dựng cơ sở tôn giáo và tổ chức lễ lạt đình đám, để tránh khỏi bị mang tiếng là không biết xử thế ở đời và vô cảm trước cảnh nghèo khổ của người túng đói, hay lợi dụng cơ hội để làm tiền, như nhiều người than phiền.
- Có nhiều linh mục tổ chức tiệc tùng để mừng kỉ niệm 5 năm, 10 năm, 15 năm linh mục... Nếu tổ chức 25 năm thì người ta còn hiểu được, vì đó là thói quen đã có từ lâu. Tuy vậy, cũng nên liệu sao cho vừa phải, kẻo bị phê bình và mang tiếng là là tiêu phí hay mở tiệc để nhân cơ hội nhận quà cáp và tiền bạc. Vấn đề này hơi khó, vì bản chất văn hóa của người Việt đã quen với tiệc tùng, lễ hội, đình đám. Nhưng có lúc phải vượt lên trên những thứ đó, để xứng với danh là người giáo dục đức tin và hướng dẫn dư luận. Đối với người thuộc về Hội thánh, một Hội thánh muốn phục vụ người nghèo, một Hội thánh không muốn là ốc đảo giữa một đại dương mênh mông của nghèo đói và khốn cùng thì liệu các lễ lạt tưng bừng tốn phí kia có khỏi là một bằng chứng phản ngược lại với chủ trương trong bản tuyên ngôn Hội nghị các Giám mục Á châu tại Manilan 1971 không?
Công việc truyền giáo không phải chỉ diễn ra bằng lời nói, nhưng còn bằng lối sống của người công giáo bên cạnh những người không công giáo. Đừng để nhà báo Chu Tử phải thốt lên rằng: "Linh mục là người mặc áo chùng thâm, đi giày tây".
- Linh mục thường quen sống với những người đồng đạo , thường dùng ngôn ngữ và theo lề thói của những người có đạo mà quên mất đi còn có những người không cùng một đạo ở xung quanh và không nghĩ đến phản ứng của họ khi thấy những người công giáo nói năng, cư xử. Vì thế, nhân danh sứ mệnh truyền giáo, các linh mục cũng nên lưu tâm đến hành vi, cử chỉ, lời nói cua mình giữa những người không phải công giáo. Người ta truyền giáo không chỉ bằng những lời rao giảng, nhưng chính là thái độ và đời sống, thái độ trọng kính người khác và đời sống phù hợp với những điều đạo dạy.

BAY ĐI XIN TÀI TRỢ

Hiện nay, số lượng các linh mục, tu sĩ sang Mỹ quá đông đến nỗi có ười ở Mỹ nói là các Giám mục, linh mục, nữ tu Việt Nam đi Mỹ như đi chợ. Câu nói này có ngầm một ẩn ý, mà dù vô tình ai cũng hiểu.
Có nhiều vấn đề xảy ra, nhưng hai bên cần phải hiểu rõ hoàn cảnh của nhau hơn, để tránh được những ngột ngạt về phía bên này và khó chịu về phía bên kia. Trước hết cần đưa ra một nguyên tắc - TỰ TRỌNG + TÔN TRỌNG từ cả 2 bên.

1. LINH MỤC TỪ VIỆT NAM QUA
- Các LM từ VN qua nên hiểu là các anh em đồng nghiệp của mình quản nhiệm các nhà thờ ở Mỹ đều phải đóng góp cho Giáo phận và cũng phải có tiền bạc cho các sinh hoạt ở địa phương mình. Vì thế, nên đắn đo tìm hiểu trước xem nơi nào và người nào có thể giúp mình được. Có những người và những nơi không nên ngỏ ý một chút nào.
- “Cùng bất đắc dĩ phải xin” thì nên có giấy giới thiệu của Giám mục sở tại và xin trong tư thế tự trọng: “giấy rách phải giữ lấy lề”, không nên bi thảm hóa hoàn cảnh để khơi gợi lòng từ tâm và tránh đi qua đi lại một chỗ hai ba lần kẻo mang tiếng là “quấy quả”. Nói là “cùng bất đắc dĩ” vì chẳng linh mục nào vui khi phải cầm giỏ đứng ở cửa nhà thờ cho người ta “bố thí”, hơn là chia sẻ.
- Tuyệt đối tránh cảnh “mượn đầu heo nấu cháo”, nghĩa là tiền nào dùng vào việc ấy, quyên tiền đào giếng là đào giếng chứ không dùng vào việc nào khác”.
- Hết sức tránh dùng một phần tiền quyên cúng vào việc riêng để khỏi bị mang tiếng là “chấm mút”.
- Nên thông cảm cho anh em linh mục VN sống nhiều năm ở Mỹ, vì dù muốn hay không, người ta cũng đã bị Mỹ hóa trong cách hành xử, nên không còn mềm mỏng và tế nhị như khi còn ở VN. Người ta chào hỏi và từ biệt nhau thì chỉ có Hello và Bye bye với Okay, All right mà thôi.
- Không nên mặc cảm vì mình không biết hay không thông thạo tiếng Mỹ hoặc có bằng cấp như người ở Mỹ. Chẳng qua là vì mình không ở Mỹ, chứ nếu ở Mỹ thì cũng như người ta thôi. Vả lại, không biết tiếng Mỹ thì biết tiếng khác, không có bằng Mỹ thì có bằng khác. Không phải cứ sống theo “American way of life” mới là văn minh thời thượng.
- Không nên mượn danh nghĩa của người có chức quyền, hay viện cớ hoạt động từ thiện một cách giả tạo để quyên cúng.
- Nên để ý đến một số cử chỉ và thái độ trong cách ăn mặc, đi đứng và vệ sinh cho phù hợp với người quan sống ở Âu Mỹ, để khỏi bị người ta chê là “nhà quê” mà coi khinh, coi thường.
2. LINH MỤC VIỆT NAM Ở MỸ
- Tránh thái độ tự hào vì sống ở Mỹ, nên có những điều kiện thuận lợi hơn người khác, mà ra vẻ coi thường, coi khinh những người đến từ nơi khác như VN.
- Đừng tưởng ai từ VN đến Mỹ cũng là để xin tiền, và có thái độ lạnh nhạt không một lời hỏi thăm xã giao, như để tránh một thứ “của nợ”. Xử sự như thế là tự mình làm giảm giá mình trước mặt người từ xa đến. Tuy không nói ra, nhưng trong lòng người ta đánh giá mình không cao, và cho mình là loại người hơm hĩnh, giống như chàng trưởng giả làm sang trong vở kịch Le bourgeois gentilhomme của Molière.
- Nước Mỹ giàu có, dư thừa của cải vật chất, nhưng người ở Mỹ không nên ỷ và cái thế đố mà coi thường người khác và chê bai tất cả. Sự giàu có chưa phải là điều độc tôn mà còn có nhiều giá trị khác nữa, ở những nơi khác và nơi những người khác, chứ không phải chỉ nguyên nơi những người ở Mỹ.
- Nên nhân nhượng và thông hiểu hoàn cảnh của những người đến xin tiền, cũng như con số người xin tiền quá đông. Nhưng trước cảnh xin tiền này, có nhữn người giáo dân nói rằng ai muốn cho thì cho, không bắt buộc, còn các cha, các cha có cho đâu mà sao cũng nói ra nói vào.
- Lời nói không mất tiền mua. Các linh mục ở Mỹ mà càng tỏ ra niềm nở và thân tình với các linh mục đến từ VN thì càng được các linh mục đến từ VN thì càng được các linh mục ở quê nhà quí mến và cảm phục.
Xin các vị nhớ cho là các linh mục từ Vn sang, đều có bà con hay giáo dân cũ, nên không dám phiền hà hay nhờ vả gì các vị đâu. Bởi vậy, các vị không nên lạnh nhạt và xa cách mà trở thành vô tâm hay vô cảm.
Xin nhắc lại phải đặt ra nguyên tắc để hành xử với nhau, đó là tự trọng và tôn trọng, tránh cho nhau những sự ngột ngạt và khó chịu.

ĐỜI TU…. ĐÓNG HAY MỞ?

Mỗi lần trở về thăm gia đình và người thân quen, tôi luôn nhận được nhiều lời động viên, nhắc nhở và khuyến khích, chẳng hạn “Ôi mày đi tu đi cho nó sướng, không phải lo chuyện gia đình, nhà cửa. Đi tu đi con ạ, chứ ở nhà lấy chồng, lấy vợ khổ lắm, gia đình phức tạp,mày đi tu thì không phải chứng kiến cảnh cãi nhau, đánh nhau….”
Phải chăng đi tu là một sự trốn chạy khỏi bể khổ cuộc đời? Phải chăng đi tu chỉ vì những lý do ích kỷ vậy thôi sao?

Tôi nhìn đời tu dưới một lăng kính kinh nghiệm của chính mình và những người anh, chị em tôi sống cùng, và của những người có cùng một lý tưởng sống mà tôi được gặp gỡ, sẻ chia.
Ơn gọi nào cũng vậy, nếu có sự dấn thân với tình yêu thì ơn gọi đó có ý nghĩa, đẹp cả nội dung lẫn hình thức. Nếu chọn đi tu như một cuộc trốn chạy khỏi những ràng buộc và đau khổ để đổi lấy an bình cho bản thân, có lẽ người tu sĩ đã lệch lạc trong sự chọn lựa của mình.
Vậy đi tu có phải người tu sĩ chấp nhận đóng mình với và trước cuộc đời để mở ra một chương mới của cuộc đời?
Đi tu là một sự đóng mình lại! Đóng mình trước những mời gọi của bổng lộc trần gian và chấp nhận sống khiêm hạ. Đóng mình trước những bon chen của cuộc sống xô bồ để chọn một lối sống giản đơn. Đóng mình trước vòng xoáy của quyền lực, danh vọng để dám trở nên bé nhỏ trước mặt Thiên Chúa. Để có được thái độ chấp nhận đóng mình lại là cả một hành trình tập luyện và cố gắng liên lỉ. Dám đóng lại những mất mát của quá khứ, những thương tổn tâm hồn, của một tuổi thơ đau buồn để mở ra và đón một luồng khí mới của lòng biết ơn, của sự chữa lành. Đi tu cần nơi tôi mỗi phút phấn đấu để đóng mình trước những than phiền, trách móc, những hờn ghen nhỏ nhoi, những xu hướng ích kỷ chỉ muốn nghĩ cho riêng mình. Đi tu là từng giây hy vọng đóng lại những cánh cửa của sự hận thù và thiếu yêu thương, để mở ra cánh cửa của sự thứ tha và trao ban. Thật vậy, đi tu là đóng, nhưng lại cũng đang mở.
Mở to đôi mắt để nhìn thấy và nhìn kỹ từng khuôn mặt và cử chỉ yêu thương nơi con người. Để chiêm ngắm những tuyệt tác của đất trời mà ca ngợi Đấng Tạo Hóa yêu thương. Mở to đôi tai để lắng nghe những điệu nhạc du dương của tình mến, của lòng biết ơn và của sự thứ tha. Để lắng nghe chân thành những chia sẻ trìu mến của tha nhân. Mở rộng vòng tay yêu thương để trao ban tình mến; để ôm lấy những em bé bất hạnh bên đường, những cụ già neo đơn góc phố, những bạn trẻ sa chân lỡ bước đang đánh mất cuộc đời mình; để xoa dịu những vết thương trên những đôi vai gầy cực nhọc; để bảo bọc những người yếu thế cô thân.
Đi tu là mở to miệng lưỡi trước những bất công của xã hội. Mở to tiếng nói để bảo vệ những người thân cô thế cô, mở rộng đôi chân để bước đến với những người bên lề cuộc sống. Đẹp thay những bước chân theo Thầy Giêsu đi loan báo Tin Mừng nơi những ngóc ngách, nơi những góc khuất ít người để ý đến. Mở rộng trái tim yêu thương như chính Chúa Giêsu đã yêu thương, không tính toán, không chọn lựa, không nề hà những đàm tiếu của xã hội. Mở rộng trái tim để Đức Kitô thổi vào nguồn sống mới, tình yêu mới và niềm vui mới để ta dám mang lấy những khổ đau của anh chị em. Mở rộng tâm hồn đón lấy những biến chuyển của thế giới với niềm tin và hy vọng. Mở ra với những ai nghèo đói, những gia đình tan vỡ, những ai đang gồng gánh những nhọc nhằn của cuộc sống.
Trên những cái mở của cuộc đời mà mỗi người tu sĩ được mời gọi, đi tu cũng là dám mở lòng mình ra để người khác giúp tôi sửa đổi những yếu đuối mỗi ngày hầu qua đó tôi trở nên giống Giêsu với con tim tràn đầy yêu thương.
Vâng, đi tu là đóng, đóng mình trước những tranh chấp của thế gian, nhưng không bao giờ tôi được phép đóng mình trước cái đẹp và ngay cả những bất công của xã hội. Đi tu là đóng mình trước những thứ tạm bợ của trần gian, nhưng mở ra đón nhận những đau khổ của anh chị em xung quanh. Đi tu không phải là một sự chạy trốn bể khổ trần gian, nhưng là mở ra, bước theo thầy Giêsu đi từ làng này đến làng khác đem Tin Mừng ơn cứu độ và sự giải phóng đến cho người nghèo, người bất hạnh và đau khổ trong cuộc đời.
Đi tu là sửa, sửa để trở nên thánh trong mỗi phút giây của cuộc sống.