"Con không biết rằng Cha thường đối xử với bạn bè bằng cách gửi cho họ Thánh Giá sao?"

Tình yêu là số 0!

Tình yêu là số 0. Dù có thêm bao nhiêu vào bao nhiêu số 0 đi chăng nữa, thì kết cục cũng chỉ nhận lấy thất bại mà thôi... Đừng có ngớ ngẩn như vậy chứ. Số 0 là điểm khởi đầu của tất cả. Không xuất phát từ nó thì không gì có thể tồn tại được!

Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít

Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin mừng cho mọi tạo vật. (Mc 16: 15-18)

Tôi ghét sách!!!

Chúng chỉ dậy tôi về những điều mà tôi chẳng biết gì. Tôi đọc lòi cả mắt và vẫn không đọc được đủ tới một nửa... Tôi càng đọc nhiều, tôi càng thấy còn nhiều điều cần phải đọc.

Tôi sống hết tôi từng khoảnh khắc.

Vì chúng ta còn trẻ nên một ngày không cần phải quá bình yên. Vì chúng ta còn trẻ hãy cứ điên, nếu có sai chúng ta vẫn còn đủ thời gian làm lại mà... Tuổi thanh xuân giống như một cơn mưa rào. Dù cho bạn từng bị cảm lạnh vì tắm mưa, bạn vẫn muốn được đằm mình trong cơn mưa ấy lần nữa.

"Tôi tên là Giêsu của Têrêsa"

- Này em, em tên gì? - Thưa bà, vậy bà tên chi? - Tôi tên là Têrêsa của Chúa Giêsu. Cậu bé mỉm cười rất dễ thương tiếp lời: - Tôi, tôi tên là ... Giêsu của Têrêsa! Nói xong, cậu bé "Giêsu của Têrêsa" biến mất...

Hiển thị các bài đăng có nhãn Tản mạn đời tu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tản mạn đời tu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 4 tháng 1, 2016

Chút gì đọng lại sau ngày lễ trao tác vụ phó tế và linh mục

... “Tôi chẳng là gì sao Người gọi tôi, tôi chẳng là sao Người gọi tôi, tôi thật nhỏ bé như chim như chẹn, như là hạt cát ở giữa biển khơi, sao Người gọi tôi, sao Người gọi tôi...”. Hay là “Đời con Chúa ơi sao quá mọn hèn mà Chúa đã gọi con bước lên, sai con đi giữa cuộc đời, để nên như men muối mặn đời ...” 

Nhiều và nhiều bài hát trong ngày trao sứ vụ mà ca đoàn thường hát phần nào nói lên thân phận của một con người nhỏ bé mà lại được Thiên Chúa mời gọi cộng tác vào trong công cuộc cứu độ của Chúa. Lời những bài hát ấy như khẳng địn, như nói lên thân phận mỏng dòn yếu đuối của con người nói chung và của vị tiến chức trong ngày lễ trao tác vụ nói riêng.

Như bao tín hữu, thi thoảng có dịp trao lễ tác vụ phó tế và linh mục tôi sung sướng được hiệp thông niềm vui ấy với tiến chức, với cộng đoàn và với Hội Thánh. Thánh Lễ trao tác vụ rồi qua đi, những thiệp mời dự lễ cũng sẽ chẳng còn, những bàn tiệc mừng hoành tráng cũng được dọn dẹp sau niềm vui lớn được chia sẻ thế nhưng điều đọng lại trong tôi không phải là những tấm thiệp đẹp, nghi lễ trang trọng, yến tiệc linh đình.

Đành biết không thể nào phủ nhận được cần và rất cần những tài nghệ điêu luyện của những nhà thiết kế thiệp, đành biết là cần có sự chuẩn bị thật cần thiết từ âm thanh ánh sáng, giúp lễ, ca đoàn để góp phần cho Thánh Lễ trao tác vụ được trang nghiêm, đành biết là cũng cần chút gì đó để mà “lạc” sau lễ, thế nhưng điều cần thiết mà tôi thiển nghĩ đó là tâm tình, thái độ, lối sống của tiến chức trong và sau cái ngày lễ tạm gọi là “huy hoàng” ấy.

Trong phần nghi thức trao tác vụ phó tế và linh mục, phần chính yếu là phần đặt tay xin ơn Chúa xuống trên tiến chức, rồi thêm những phần khác nhưng đọng lại trong tôi 2 điều mà tôi cảm thấy sâu sắc và đôi lúc rợn tóc gáy khi nghe. Tôi cũng chẳng nhớ chính xác từng câu từng chữ của vị giám mục chủ phong nhưng nghe đến những lời chỉ dạy của ngài tôi cảm thấy sợ :

- ... Con hãy tin điều con đọc, hãy nói điều con tin và hãy sống điều con tin !

- ... Con hãy nhận lễ vật này, hãy dâng lên Thiên Chúa và hãy rập khuôn đời mình theo mầu nhiệm Thánh giá Chúa !

Nghe ghê quá !

Một “bình sành lọ đất” (theo kiểu nói của thánh Phaolô) nay lại chứa đựng ơn thánh Chúa. Quả là là một điều có thể nói là bất thường nhưng với Thiên Chúa, Ngài lại hay biến cái bất thường ấy thành cái vô thường, cái phi thường nơi những phận người mỏng dòn và yếu đuối ấy.

Lời nhắn nhủ của Giám mục chủ phong trong ngày trao tác vụ ấy không chỉ nhắc nhở cho vị tiến chức mà hình như cũng nhắc nhở cho mỗi người Kitô hữu chúng ta vì lẽ mỗi người Kitô hữu chúng ta mang trong mình ba sứ vụ : ngôn sứ, tư tế và vương đế. Nói cách khác là mỗi người Kitô hữu cũng phải rập đời mình theo khuôn mẫu của Đức Kitô.

Mỗi một lần tham dự Thánh lễ trao sứ vụ phó tế, linh mục cũng là mỗi một lần chúng ta được vị chủ chăn nhắc nhớ sứ vụ của mỗi người chúng ta : hãy rập đời khuôn đời mình theo mầu nhiệm Thánh giá Chúa. Ước chi lời của vị chủ chăn đọng lại nơi mỗi người chúng ta để ngày mỗi ngày, chúng ta từng bước cố gắng rập khuôn đời mình theo Thánh giá Chúa vậy.

Biết rằng để sống, để vác, để rập đời mình theo Thánh giá Chúa không phải là chuyện dễ nhưng cũng chẳng phải là chuyện không thể làm được. Ta cứ cố gắng, cứ cố gắng ngày mỗi ngày thì sẽ được. Cộng thêm với ơn Chúa bằng lời cầu nguyện của mỗi người chúng ta, hy vọng mỗi người chúng ta cũng sẽ trải nghiệm, sẽ sống và cũng sẽ thốt lên như Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Côrintô : “Tôi không muốn biết chuyện gì khác ngoài Đức Giêsu, mà là Đức Giêsu chịu đóng đinh”.

Vâng ! không biết chuyện gì khác ngoài Đức Giêsu chịu đóng đinh đồng nghĩa rằng ta đã sống rập đời mình, quy chiếu đời mình vào mầu nhiệm Thánh giá Chúa.

Như ngọn nến tiêu hao



Bạn cảm giác thế nào khi bỗng dưng một ngày đẹp trời nọ người mình yêu lại… đi tu? Bạn cảm giác thế nào khi bỗng dưng, cũng một ngày đẹp trời khác, bạn phát hiện ra rằng kẻ làm con tim mình đập lỗi nhịp lại chính là một tu sĩ… Phải chăng là tai họa?…

1.
Đọc xong kinh tạ ơn sau thánh lễ, Minh cúi đầu chào Chúa trên bức tượng chịu nạn, rồi nhẹ nhàng ra khỏi phòng thánh. Tâm hồn chàng lâng lâng trong niềm bình an sâu lắng sau khi dâng một thánh lễ sốt sắng. Chàng đang sống những ngày tháng đẹp nhất đời người, sau một tuần được làm linh mục của Chúa.
Đang muốn tìm gặp cha xứ để nói vài lời cám ơn vì đã mời mình về đây dâng lễ, Minh dừng chân trên bục cửa, dõi mắt nhìn ra khoảng sân nhỏ bên hông nhà thờ. Gió chiều nhè nhẹ mơn man mái tóc bồng bềnh nghệ sĩ của vị linh mục trẻ. Sân nhà thờ cuối chiều ngập nắng. Giàn hoa giấy đỏ rực rỡ dọc hai bên lối đi. Bên giàn hoa, một cô bé khoảng bốn năm tuổi với chiếc váy đầm màu xanh da trời đang tung tăng đuổi theo chú bướm vàng. Chú bướm chập chờn bay lên lượn xuống. Cô bé mê mải, cho đến khi đâm sầm vào người Minh.
– A ! ông cố ! con xin lỗi ông cố !…
Minh mỉm cười thân thiện trước vẽ bối rối của cô bé. Chàng cũng mỉm cười vì lần đầu tiên trong đời được nghe gọi là ông cố. ‘Ông cố’ dịu dàng cúi xuống trên cô bé:
– Ừ ! ông cố chào con ! con tên là gì ?
– Dạ, con tên là Minh Anh, con là con của mẹ Trúc Thanh và bố Dương Bình.
Cô bé vừa trả lời, vừa ngước lên nhìn ông cố. Trên khuôn mặt trái xoan thánh thiện là đôi mắt trong veo. Chạm vào đôi mắt ấy, Minh bỗng thoáng giật mình. Trong đôi mắt bé Minh Anh có nét gì đó thật thân quen gần gũi. Chàng lặp lại:
– Con là bé Minh Anh, con của mẹ Trúc Thanh…
Trúc Thanh, phải rồi, cái tên ấy, đôi mắt ấy !..
———- o0o ———-
2.
Trúc Thanh không được sinh ra trong một gia đình công giáo. Cả dòng họ của nàng đều là người bên lương. Hồi nhỏ, nhà thờ là cả một thế giới bí ẩn và lạ xa đối với nàng. Lớn lên một chút, đến tuổi biết mơ mộng, nhà thờ bỗng hấp dẫn nàng hơn. Xem phim, nàng thấy những đám cưới được tổ chức trong nhà thờ thật đẹp và trang trọng. Nàng mơ một ngày được làm cô dâu xúng xính trong chiếc áo đầm trắng muốt, được tay trong tay với một chú rể đẹp trai, họ cùng dìu nhau bước vào lòng nhà thờ ngập đầy hoa và nến, khi ca đoàn trổi khúc thánh ca du dương… Ở cái tuổi mộng mơ, Trúc Thanh đã nhiều lần để cho trí tưởng tượng bay bổng vẽ nên chân dung chú rể lý tưởng của lòng mình.
Tưởng rằng nàng đã gặp được giấc mơ ấy ở năm thứ hai đại học. Bước vào thời sinh viên, Trúc Thanh trở thành đích nhắm của nhiều chàng trai, nhờ khuôn mặt trái xoan thanh cao và giọng ca ngọt ngào. Đến hết năm thứ nhất, Trúc Thanh chẳng tìm được khuôn mặt của chàng rể mà nàng đã mơ… cho đến lúc Minh xuất hiện.
Minh học trên Trúc Thanh hai lớp. Chàng xuất hiện như một diễn viên phụ trong dàn nhạc của trường, lặng lẽ đệm đàn cho Trúc Thanh hát trong những buổi văn nghệ. Cho đến một hôm, để lấp vào một tiết mục bị hủy, diễn viên phụ phải bước ra ánh đèn sân khấu. Với phong cách đệm guitar nhẹ nhàng mang hồn cổ điển, giọng ca trầm ấm, mái tóc nghệ sĩ ngông ngông… Minh đã làm rung động con tim của Trúc Thanh ngay từ buổi đầu giáp mặt.
Trúc Thanh hạnh phúc khi biết Minh là người có đạo. Nàng tin đây là người mà Trời đã định sẵn để lấp đầy mơ ước trong lòng mình. Những lần cùng Minh bước vào ngôi thánh đường tham dự thánh lễ ban chiều, dù chưa hiểu gì về những nghi thức đang diễn ra quanh mình, Trúc Thanh vẫn thấy tâm hồn mình bình an lạ lắm. Nàng càng ngạc nhiên hơn nữa khi chứng kiến một người vững vàng như Minh mà cũng biết quỳ gối và gục đầu cầu nguyện. Nàng không hiểu được những gì đang diễn ra trong lòng Minh, nhưng nàng có thể đọc được phần nào chiều sâu thẳm trong tâm hồn chàng qua đôi mắt kính cẩn đang đăm đăm nhìn lên bàn thờ Chúa.
Qua những chăm sóc âm thầm nhưng chu đáo của Minh, nàng biết càng ngày mình càng đi gần đến ước nguyện.
3.
Sau ba tháng hè, Minh xuất hiện trước mặt Trúc Thanh, lặng lẽ. Sau ba tháng chờ đợi trong nỗi nhớ cồn cào, có biết bao điều muốn nói, thế mà Trúc Thanh như thấy có gì đó hụt hẫng. Minh ngồi trước mặt nàng, chỉ lặng lẽ. Đôi mắt chàng như đang ở một chốn xa xăm nào đấy. Chàng như đã trở thành một con người khác. Mái tóc nghệ sĩ ngông nghênh đã được cắt gọn. Chiếc áo pull bụi bặm được thay bằng chiếc sơ mi trắng tinh lịch sự… Trúc Thanh đoán rằng có lẽ đã có điều gì đó thay đổi thật ghê ghớm trong tâm hồn Minh. Nàng mơ hồ linh cảm rằng thay đổi ấy sẽ đưa Minh ra khỏi cuộc đời nàng. Chàng ngồi đó, gần thật gần, mà như xa diệu vợi.
Mùa hè năm ấy Minh quyết định đi tháng tình nguyện. Chàng muốn tìm kiếm kinh nghiệm mới trong mùa hè cuối cùng của đời sinh viên. Bởi chàng biết, một khi đã ra trường, bị cuốn vào công việc và tiền bạc, chắc khó còn có cơ hội để chàng làm những việc thiện nguyện đầy ý nghĩa.
Minh về dạy học ở một tỉnh vùng sâu cho những đứa trẻ không có cơ hội đến trường. Đó là một làng quê nghèo. Trẻ con ở đấy quen với việc chạy nhảy ngoài đồng hơn là phải ngồi bó gối một chỗ trong lớp học. Để có thể được làm thầy giáo, những ngày đầu Minh cũng phải ra đồng chạy nhảy với đám nhóc, cũng cũng leo cầu nhảy sông, cũng chèo xuồng chống vỏ… Sau một tuần, Minh gom được một đám nhóc quanh khoảng sân của ngôi chùa nhỏ nằm bên mép làng. Trong cái không gian lặng lẽ ấy, Minh bắt đầu gieo những con chữ đầu tiên vào đầu bọn nhóc.
Chỉ cách có một con mương nhỏ, nhưng ngôi chùa hầu như tách biệt với cuộc sống đang nhộn nhịp trong làng. Sân chùa buổi chiều ngập đầy lá rụng. Gió chiều xào xạc về trên những tán bồ đề rợp bóng.
Theo như người ta kể, khuôn viên nhà chùa trước đây là mảnh đất thuộc về một phú ông trong làng. Sư trụ trì trước đây vốn là cậu út trong gia đình phú ông. Cậu đem lòng yêu thương một cô gái nghèo trong làng, bất chấp sự cấm cản của gia đình. Chẳng biết gia đình đã dàn xếp thế nào mà sau một đêm, cả gia đình cô gái đột nhiên biến mất. Cô gái ra đi với đứa con đang thành hình trong bụng. Từ dạo ấy cậu út chuyển vào ở trong mảnh đất nhỏ bên mép làng. Một ngôi chùa nhỏ mọc lên. Lặng lẽ và bình yên.
Nhưng cuộc sống trong làng thì không bình yên được như ngôi chùa nhỏ. Cả làng vẫn còn nghèo, nhưng những ảnh hưởng của văn minh đã đi trước và đập lên cuộc sống bình yên của cả làng… Hoa quả của nó là những đứa trẻ còn đỏ hỏn lâu lâu lại bị bỏ rơi trước cổng chùa. Nhà chùa bỗng nhiên thành viện mồ côi.
…Một cách vô tình, lớp học của Minh trở nên nơi gặp gỡ cho những đứa trẻ trong làng và những đứa trẻ mồ côi trong chùa. Được vào chùa, bọn trẻ con trong làng thích chí vì được chạy chơi thỏa thích sau mỗi giờ học. Những đứa trẻ mồ côi trong chùa thì mừng rỡ hơn vì có thêm bạn mới. Sân chùa đầy ắp tiếng cười.
Kết thúc hai tháng tình nguyện. Chia tay ngôi làng nhỏ. Mấy đứa trẻ ôm Minh mà khóc: “Thầy đừng đi Thầy ơi, ở lại đi Thầy ơi, ở lại là bố của tụi con. Ở đây đứa nào cũng có bố chỉ có tụi con là không. Tụi nó tụi gọi con là mấy đứa con hoang…”
Chia tay ngôi làng nhỏ. Đó là lần đầu tiên trong đời Minh khóc trước mặt người khác. Trên chuyến xe về lại thành phố, lời của sư trụ trì vẫn còn vang vọng trong Minh: “Hy sinh một cuộc đời để nhiều cuộc đời khác được sống, điều đó đáng lắm chứ, thí chủ!”

4.
Chia tay. Họ chia tay bình thường như bao cuộc chia tay khác. Minh ra trường, tìm một khởi đầu mới trên con đường vừa nhen nhóm giữa lòng mình. Trúc Thanh ở lại tiếp tục việc học hành trong những ngày tháng vô vị.
Trúc Thanh không dám khóc vì sợ làm bận lòng Minh. Nàng biết Minh đã quyết. Nàng không hiểu tại sao Minh lại chọn con đường ấy, nhưng nàng lại tin Minh chẳng bao giờ chọn lựa sai.
Trước lúc chia tay, Minh tặng Trúc Thanh một cây nến nhỏ. Minh nói cây nến này người ta hay dùng để đốt trong nhà thờ, nhất là vào những đêm kinh nguyện. Giữa thế giới văn minh này, nến không còn cần thiết cho cuộc sống, nhưng nến vẫn thật cần thiết cho tâm hồn. Minh dặn nàng khi nào quá mệt mỏi với cuộc sống bề bộn, khi nào thấy tâm hồn mình quá lạnh lẽo, khi nào thấy cần có một người để tâm sự, hãy đốt nến lên. Và lặng lẽ.
Cây nến nhỏ vẫn còn nằm một góc trong ngăn bàn làm việc của Trúc Thanh. Ngọn nến cho lòng Trúc Thanh nhiều ấm áp và bình an. Nhưng ngọn nến chỉ được đốt lên mới có một lần. Nàng không đủ can đảm nhìn những vệt chảy loang lỗ trên thân nến. Nàng không đủ can đảm nhìn thân nến cứ tiêu hao dần dần mỗi khi được đốt lên. Nàng tự hứa với lòng sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, để không bao giờ phải đốt nến nữa…
Trúc Thanh xin học đạo. Không còn phải để được làm cô dâu xúng xính. Nàng muốn tìm hiểu con đường mà Minh đang đi. Lạ lùng thay, càng tìm hiểu nàng càng cảm thấy con đường ấy quá xa với mình. Nàng không hiểu, nhưng càng ngày nàng càng chấp nhận hơn. Nàng tin Chúa có sự sắp xếp của Chúa. Nàng tin rằng với sự sắp xếp ấy nàng gặp được Dương Bình, nàng có bé Minh Anh, nàng có một mái gia đình đầm ấm.
5.
Tan lễ chiều, Trúc Thanh về nhà trong tâm trạng thật lạ. Vậy là chàng đã về, đã trung thành với chọn lựa của mình, đã hoàn toàn thuộc trọn về Chúa. Mừng cho chàng… Nhưng sao tâm trạng của nàng lạ quá. Dường như có một chút gì đó chợt nhói lên trong nàng. Phải chăng là khoảng trời mơ tưởng đã ngủ yên chợt cựa mình thức giấc? Phải chăng là một chút hy vọng vô lý nhưng dai dẳng trong nàng vừa vụt tắt? Phải chăng nàng mang cảm giác tiếc nuối của cái thời còn là một cô bé vụng dại, khi lỡ tay để cho chiếc bong bóng vụt bay về trời?
Đêm. Trúc Thanh một mình ngồi lặng lẽ trong căn phòng. Tiếng gió ngoài hiên xào xạc. Đêm ngập tràn bóng tối.
Nàng hiểu tại sao Minh lại tặng nàng cây nến nhỏ. Cuộc đời chàng giống như một cây nến. Cây nến phải được đốt lên, phải tiêu hao đi, để cuộc đời đầy bóng tối này được thêm một chút ánh sáng. Nàng nghĩ đến ngọn nến lặng lẽ bên nhà chầu trong đêm mưa bão. Nến cho người ta biết đường mà tìm về…
Đêm ấy có một người lặng lẽ đốt nến giữa căn phòng lung linh ấm áp.
những ngày cuối năm 2008

Chủng Viện là trường dạy sự thật cho Chủng Sinh



Đầu niên khóa là cơ hội để ban huấn luyện cũng như chủng sinh lọc-lựa các đích-điểm của năm học. Điều này càng đúng hơn đối với những ai gia nhập chủng viện năm đầu tiên. Thật quan trọng khi biết mình muốn đi đâu! Nguyên tắc cứu-cánh là nền tảng trong mọi nền giáo dục. Giữa các đích điểm khác nhau xin nêu cao giá trị của việc đạt đến sự hiểu biết chân thật và không giả tạo về chính mình. Sự thật về con người của mình đúng là viên đá nền tảng cho mọi tiến trình trưởng thành nhân bản. Người ta chỉ có thể đạt đến mức độ trưởng thành nhân bản và tình cảm nếu trước đó người ta biết rõ về mình.

Có vài người nghĩ rằng sự trưởng thành nhân bản và việc biết rõ mình phải đạt được trước khi bước chân vào Chủng Viện. Người ta cũng thường nghe nói rằng chỉ nhận vào Chủng Viện những ai đã trưởng thành. Nói thế thì có nghĩa là chỉ ở trong thế gian – bên ngoài Chủng Viện – con người mới có thể trưởng thành!

Tuy nhiên, kinh nghiệm của các chủng sinh chứng minh ngược lại nguyên tắc trên đây. Thật vậy, ngay trong năm đầu tiên, các chủng sinh – thuộc bất cứ tuổi tác và có kinh nghiệm nào trong cuộc sống – đều làm cuộc khám phá duy nhất về con người thật của mình. Các mặt nạ rơi xuống.

Khi nhìn thấy khía cạnh tích cực, các chủng sinh tự khám phá ra các khả năng không ngờ hoặc không bao giờ dám nghĩ tới. Cùng lúc họ cũng chấp nhận các vết thương, các giới hạn, các nét mờ tối trong nhân cách của họ. Những ai trước đó từng có lúc mang mặt nạ để tự bảo vệ hoặc tìm kiếm chỗ đứng trong xã hội, thường làm rơi nhanh các mặt nạ này. Và họ cảm nhận niềm vui lớn lao khi chân thành thú nhận:
– Giờ đây tôi biết rõ hơn tôi đích thật là ai!

Nếu chủng sinh có thể đạt đến sự hiểu biết mình, chính là nhờ sống thật sự dưới cái nhìn của THIÊN CHÚA, được nhập thể trong cái nhìn của Đức Chúa GIÊSU KITÔ, Đấng Cứu Độ loài người. Trong Chủng Viện có việc xưng tội hàng tuần, có các buổi gặp gỡ đều đặn với Cha Bề Trên và tiếp nhận sự chỉ đạo thiêng liêng thường xuyên của Cha Linh Hướng. Nhờ vậy mà chủng sinh biết rõ mình là ai và tiến đến mức độ trưởng thành nhân bản. Ngoài ra cần nhấn mạnh đến những giờ thinh lặng suy gẫm, những cuộc chuyện trò lòng bên lòng với Đức Chúa GIÊSU KITÔ, giúp đưa chủng sinh từ miền bóng tối tiến vào vùng ánh sáng. Lời Đức Chúa GIÊSU phán: ”Chính Thầy là Con Đường là Sự Thật và là Sự Sống. Không ai đến với CHÚA CHA mà không qua Thầy” (Gioan 14,6), nhắc chủng sinh luôn ghi nhớ rằng phải sống trong sự thật, thật với chính mình và thật với người khác. Như thánh Phêrô và thánh Phaolô, chủng sinh học cách thức xây dựng cuộc đời mình trong niềm tin nơi Con THIÊN CHÚA.

Ngoài tiến trình thiêng liêng, còn có đời sống chung và tình huynh đệ góp phần vào việc thao luyện nhân cách của chủng sinh. Thật vậy, chủng sinh phải học sống với người anh em mình không chọn cũng không thể trốn tránh. Nói một cách khôi hài thì, chúng ta bị ”kết án” sống chung! Tuy nhiên, người anh em lại là tấm gương phản chiếu hình ảnh chúng ta. Vì thế phải học nhìn thẳng vào mặt người anh em. Đặc tính của nền huấn luyện nhân bản nằm ở chỗ đó! Vượt lên trên các tình cảm tự nhiên, chịu đựng người anh em có tính tình khác xa mình, vui vẻ chấp nhận các câu nói đùa, và nhất là biết tha thứ và biết xin lỗi, là những yếu tố cần thiết dệt nên cuộc sống thường nhật của chủng sinh.

Xuyên qua các kinh nghiệm giao tế, sự thật về chính mình dần dần được tỏ lộ. Các mặt nạ rơi xuống. Từ đó chủng sinh có thể phân định con đường ơn gọi của mình. Khi yêu thương bằng hành động và bằng sự thật thì chủng sinh mới tận hưởng được niềm vui: sống hài hòa với chính mình và với anh em. Nụ cười thẳng thắn của một chủng sinh là dấu hiệu chứng tỏ chủng sinh ấy đang ở trên con đường của sự thật. Chủng sinh có thể an tâm tiến bước!

Chứng từ của Cha Louis-Hervé Guinay, Linh Mục người Pháp thuộc Cộng Đoàn Saint-Martin.

… Vậy, Đức Chúa GIÊSU nói với những người Do Thái đã tin Người: ”Nếu các ông ở lại trong Lời của Tôi, thì các ông thật là môn đệ Tôi; các ông sẽ biết Sự Thật, và Sự Thật sẽ giải phóng các ông”. Họ đáp: ”Chúng tôi là dòng dõi ông Abraham. Chúng tôi không hề làm nô lệ cho ai bao giờ. Làm sao Ông lại nói: ”Các ông sẽ được tự do?” Đức Chúa GIÊSU trả lời: ”Thật, Tôi bảo thật các ông: hễ ai phạm tội thì làm nô lệ cho tội. Mà kẻ nô lệ thì không được ở trong nhà luôn mãi, người con mới được ở luôn mãi. Vậy, nếu Người Con có giải phóng các ông, thì các ông mới thực sự là những người tự do” (Gioan 8,31-36).

(”Sub Signo Martini”, Sous la protection de Saint Martin, La revue de la Communauté Saint Martin, Trimestriel – N.32 – Septembre 2011, trang 22-23).

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Anh đi tu nhé!

Anh đi tu nhé!


… Nơi này, không có ai viết những lá thư tình ngọt ngào ru anh vào giấc ngủ. Mỗi buổi sáng cũng không thể nào có tiếng chuông điện thoại ấm áp buổi sớm mai chỉ để đánh thức con mèo lười còn ngái ngủ là anh, nơi này… không có ai hát những bản tình ca dịu dàng cho anh treo ngược hồn mình theo nỗi rét mướt của mùa đông khi hai đứa có cơ hội gặp nhau… Nơi này vắng bóng em…

Em có còn nhớ giấc mơ… Giấc mơ mà anh đã cố gắng đi trên một hành trình, mải mê theo đuổi những điều kỳ thú hai bên đường để rồi giật mình nhìn lại thì bạn bè của anh đã đi về đích trong cuộc sống của họ, lúc đó anh hốt hoảng nhận ra rằng anh chưa kịp hỏi mọi người tên của cái bến mà anh cần đến, anh đã rất hốt hoảng khi anh không biết nơi anh cần phải về là đâu?… Em đã nói với anh suy rằng anh suy nghĩ lung tung, em đã hứa với anh cho dù xảy ra chuyện gì em cũng sẽ không bao giờ bỏ anh giữa đường đời…
Ngày ra đi anh đã nghĩ rất nhiều về giấc mơ đó, anh đã có thể hiểu vì sao nó cứ hiện lên trong giấc ngủ của anh, rất… rất nhiều lần trong những tháng ngày qua, anh đã hiểu rằng… Vì sao ở bên em, anh không thể tìm được cảm giác bình yên trong tâm hồn mình, vì sao ở bên em anh không thể tự tin rằng mình là người hạnh phúc, vì sao ở bên em anh không thể là chính bản thân mình,… Because bên cạnh em có quá nhiều người và quá nhiều thứ chứ không chỉ riêng mình anh. Anh đã hiểu những điều anh đeo đuổi hai bên đường trong cuộc hành trình không điểm kết của anh chính là em, là những thứ mà anh đã cố công gầy dựng trong niềm mơ ước mong manh của mình…
Mùa đông năm nay lạnh hơn bình thường! Cái lạnh làm cho nỗi nhớ vô duyên bỗng từ nơi xa xăm nào đó ùa về, tràn qua vòm cây kẽ lá, hững hờ khẽ rơi xuống cuộc sống của anh. Những nỗi nhớ mà em đã không thể nào hiểu được. Giữa đất trời mênh mông nỗi nhớ bỗng như nước sông mùa lũ chảy tràn vào trong tâm trí anh không thể nào ngăn được, những nỗi nhớ không vâng lời đã tìm về với anh… Đó là những phút không bình yên của tâm hồn anh nơi cái miền quê cách xa em hơn một ngàn cây số này. Những điều mà anh đã mơ ước khi còn ở bên em… Anh đã ước rằng em chỉ là một người thật bình thường để anh cũng có thể là một người con trai bình thường bên cạnh em, anh ước rằng mình có thể sống thật là chính mình… Có thể làm những điều tưởng chừng thật đơn giản nhưng lại là quá sức nếu cứ phải ở bên em.

Cuộc sống của anh bây giờ là những giờ kinh phụng vụ “sáng, chiều”; là những chuỗi kinh Mân Côi; là những giờ học tu đức, là những giờ học kiến thức xã hội; là chuỗi những tiếng cười không biết mỏi; là những tách café buổi sáng,… Và em biết không, lúc này ở bên cạnh Chúa và bên những người bạn trẻ trung sôi nổi này, anh có được những giấc ngủ dài không thắt thỏm âu lo.
Anh không biết có phải mình đã ngộ nhận về những tháng ngày ấy không?… Nhưng có một điều anh biết, chúng ta là những con người ở những thế giới khác biệt, em là một ngôi sao xa mà anh là kẻ không bao giờ có thể vượt khỏi mặt đất của mình để chạm tay tới vì sao đó. Giống như là một cây lúa chỉ có thể sống tốt ở nơi đồng quê đất đượm phù sa.

Gió bấc về giống như những nỗi nhớ, những kỷ niệm xưa rồi cũng như những cơn gió thoảng đi, những cơn gió mùa đông làm người ta rét run nhưng cũng làm cho người ta biết yêu bản thân hơn, những cơn gió mùa đông làm người ta có cơ hội khoác lên người chiếc áo mới để thấy mình đẹp hơn… Những kỷ niệm làm cho người ta thấy cuộc đời còn có bao điều thú vị, những kỷ niệm giúp con người ta biết rằng cuộc đời còn có những niềm vui… Không bao giờ là quá trễ để thực hiện điều mình ao ước phải không em?…Cầu nguyện cho con đường dâng hiến của anh nhé!


Gió bấc về …Nơi ấy, chẳng biết mùa đông có lạnh lắm không? Chẳng biết những cơn gió bấc mùa này có làm em thấy se lòng… Nơi ấy có những tách café mỗi buổi sáng mùa đông cho một ngày mới không em?… Nơi ấy giờ không có anh…

Em biết không…

Anh cảm thấy hối tiếc vì sao mình lại đi tìm điều giản dị ấy ở nơi xa lạ trong từng ấy năm, vì sao anh đã có thể mất quá nhiều thời gian ở bên cạnh em mà mơ ước những điều giản dị ấy… Người ta nói yêu một ai đó là sẽ không bao giờ hối tiếc, nếu hối tiếc có nghĩa là bạn chưa yêu người ta mà đó chỉ là một tình cảm tương tự như tình yêu mà thôi…

Và anh tin, anh tin mình đúng khi quyết định ra đi, anh tin mình đúng khi rời khỏi mảnh sân con đầy hoa nắng ấy để tới nơi này, với con sông hiền hòa vỗ về, để quên đi tháng năm bơ vơ một mình giữa phố đông xa lạ… anh đã đúng khi buông tay em để trở về là chính anh, bình thường và giản dị…

Mùa đông 2010-2011 gửi em

Đi tu, bên Đạo Công Giáo, có phí uổng cho đời không? – “Cứ để mặc cô ấy làm…”

… Chà phung phí quá ! Sao lại đi tu chứ ? Cỡ như thầy, như soeur mà lo giúp đời, thì hay biết mấy? Trong khi có bao nhiêu điều cần làm trong lãnh vực bác ái và cả trong việc loan báo Tin Mừng, người ta có thể làm mà không cần có những cam kết đặc biệt của đời tu… Phải chăng là một sự phung phí năng lực mà con người có thể thi thố và giúp ích cho Giáo Hội, vừa có lợi cho xã hội?
Thực ra, vấn nạn trên đã xưa như trái đất, thời nào cũng có người thắc mắc, có phần tâng bốc ông thầy, lấy lòng masoeur, hoặc hiểu đời tu cách sai lạc, hiểu và nhìn đời tu dưới lăng kính cầu lợi vật chất.
Nếu đem so sánh với Tin Mừng thánh Gioan, thì thắc mắc trên có khác gì lời cằn nhằn đầy giả dối của Giuđa khi tỏ ra tiếc xót bình dầu quý của cô Maria: “Phung phí quá! Nếu dùng tiền tương đương bình dầu đó mà giúp người nghèo thì hay biết mấy…” Và Chúa Giêsu đã trả lời : “Cứ để mặc cô ấy làm”.
Người đời quan niệm là như thế là do phần lớn chỉ thấy những cái lợi thực tế bề ngoài, chứ không nhận ra được giá trị và hiệu năng của bậc tu trì. Nhưng làm sao chứng minh được gía trị và hiệu năng ấy cho mọi người?

Xin được trả lời qua bốn vai trò của tu sĩ là: Hiển thị, yêu mến, trung gian và bóng mát.
1. Hiển thị
Trong Tông Huấn Đời Sống Thánh Hiến (25-03-1996), Đức Thánh Cha đã dùng đoạn Thánh Kinh tường thuật việc Chúa đem ba môn đệ thân tín lên núi Ta-bo và hiển dung trước mặt họ, để tỏ cho họ biết sự thật cuối cùng về Đức Ki-tô. Nhưng liền sau đó, ngài lại dẫn họ xuống với mọi người đang chờ đợi các mình.
Theo thiển ý của người viết, phải chăng Đức Thánh Cha ngụ ý muốn các tu sĩ phải học đòi Đức Ki-tô để cùng hiển dung với Người. Các môn đệ không được để ý tưởng dựng ba cái chòi che khuất, cũng không nằm bất tỉnh dưới đất. Vì Chúa đưa họ lên cao là để chiêm ngưỡng sự hiển dung của Người.
Đời tu, trước hết là một cuộc hiển dung, vì tu sĩ đã mặc lấy Đức Ki-tô và phản chiếu ánh linh quang của Ngài cho nhân loại
Điều mà đời tu có thể mang đến được cho con người mọi thời mọi nơi, dù dưới hình thức nào, chính là giúp cho họ thấy và cảm nghiệm được sự thật cuối cùng của họ: họ là con cái Thiên Chúa, đã được Đức Giê-su giải thoát và nay được mời gọi tiếp tục vượt qua cảnh nô lệ tối tăm để bước vào miền tự do và ánh sáng, một hành trình khởi đi từ dân Do-thái và đang được hoàn thành trong lịch sử hôm nay (x. Các Bài Suy Niệm p. 125).
Sự đóng góp của đời tu, trước hết là đóng góp cho chính Giáo Hội. Bằng chính cuộc sống triệt để của mình, tu sĩ nhắc nhở và làm hiển thị cho Giáo Hội và các Kitô hữu thấy ơn gọi và thân phận thật của Giáo Hội cũng như của mọi Kitô hữu, chính là trở thành con cái Thiên Chúa.
Đã nhiều lúc Giáo Hội bị hoàn cảnh bên ngoài lôi kéo tới mức quên mất hay không còn coi trọng ơn gọi căn bản ấy. Chính trong khi làm công việc nhắc nhở và hiển thị này, đời tu được nhìn nhận là đã diễn tả rõ ràng bản tính sâu xa của ơn gọi Kitô Giáo “là không chỉ đóng vai trò trợ giúp và nâng đỡ Giáo Hội như trong quá khứ trước đây, mà còn là ân huệ quý báu và cần thiết cho hiện tại và tương lai của Dân Chúa, vì đời tu nằm trong nếp sống, sự thánh thiện và sứ mạng của Dân Chúa một cách rất thâm sâu” (VC 3).
Thử hình dung xem Giáo Hội và các Kitô hữu đã có thể đi lệch xa mục tiêu và bản chất thật của mình tới mức nào, khi trong lịch sử, không xuất hiện kịp thời những con người tu trì và những đường lối tu hành thích hợp (x. Các Bài Suy Niệm p. 126).

2. Yêu mến
Thánh Phao-lô từng quả quyết về sự cao trọng và trường tồn của đức mến. Tất cả sẽ qua đi tất cả, chỉ có đức mến lưu danh muôn thuở và là tiếng thơm cho đời.
Hơn ai hết, đức mến của các tu sĩ phải vượt trên mọi mức độ có thể định nghĩa, nghĩa là yêu như Chúa yêu, yêu đến hy sinh cả tính mạng. Cho đi một cách nhưng không, không tính toán và hoàn toàn vô vị lợi – “không để lòng quảng đại gặp được lòng biết ơn”.
Thiên Chúa có thể dè dặt trước mọi hành động của con người, riêng về lòng mến thì luôn được Người đề cao khích lệ, cho dù những việc làm về lòng mến đôi khi có phần khác thường dưới con mắt người đời. Chúa đã từng trách Giu-đa vì ông cằn nhằn trước hành động chan chứa yêu mến của Maria (lấy dầu xức chân Chúa) và Chúa đã bảo: “Cứ để cô ấy làm…” – cứ để cô tha hồ làm mưa làm gió để thỏa mãn con tim dâng tràn sự yêu mến…và đã làm cho cả nhà nực mùi thơm (x. Ga 12,3).
“Những ai đã bị vẻ đẹp và lòng nhân hậu của Chúa thu hút, sẽ thấy việc làm mà người đời cho là phung phí kia, lại chính là một cách đáp trả hiển nhiên cho một mối tình, là một cách bày tỏ lòng tri ân vì đã được Chúa chọn cách đặc biệt để hiểu biết Con Chúa và chia sẻ sứ mạng của Ngài trong thế giới” (VC 104).

3. Trung gian
Con người trong bất cứ thời đại nào, lúc bình an hay đau khổ, đều không thể thiếu đời sống tâm linh, cho dù những cảm xúc về tâm linh đối với một số người không thường xuyên, nhưng ít nhiều hay hơn một lần, họ đã từng tìm đến cầu may, bái phúc nơi cửa chùa, đất thánh… Và mỗi lần muốn cầu xin hay tạ ơn điều gì với thần thánh thì họ thường nhờ đến các tu sĩ (theo tín ngưỡng của họ), để họ cầu nguyện cho. Và đương nhiên họ sẵn sàng đền công qua những lễ vật dâng cúng.
Tắt một lời, mọi người luôn quan niệm rằng những tu sĩ là những người ưu tuyển, mới xứng đáng đàm đạo với Thiên Chúa để cầu xin cho họ. Đó là một quan niệm đúng đắn và thực tế đang chứng minh như vậy. Vì thế, những tu sĩ đã được mang danh là trung gian chuyển cầu và trung gian tạ ơn: trung gian Thiên Chúa ban ơn lành cho nhân loại và trung gian dâng những lời khẩn nguyện, tạ ơn của nhân loại lên Thiên Chúa, thì họ phải thế nào để không bị mang tiếng là ‘hữu danh vô thực’, không để phụ lòng kỳ vọng của mọi người.
Sách Xuất Hành 17, 8-13 tường thuật việc dân Do-thái đánh nhau với quân Amalekh: Cứ mỗi lần ông Môi-sê giơ tay lên cầu nguyện thì quân của ông Giosuê chiến thắng, nhưng khi ông Môi-sê mỏi bỏ tay xuống thì dân Do-thái bị đánh tan tác. Khi đem so sánh hình ảnh này với các tu sĩ chuyên lo về cầu nguyện thì thấy vai trò trung gian và giá trị của họ cao quý dường nào. Thật vậy, nếu một ngày nào đó, tu sĩ cảm thấy mệt mỏi, không giơ tay lên để cầu nguyện nữa thì nhân loại sẽ khốn đốn vì sự dữ.
Có người cho rằng chẳng có thần minh nào cả, hoặc nếu có thì cũng chẳng có sự thưởng phạt gì. Vì kẻ ác cứ nhởn nhơ, xã hội cứ tục hóa, mà Thiên Chúa chẳng can thiệp gì, nếu có, tại sao Ngài không cảnh cáo, không can thiệp? Họ đã lầm, vì nếu Thiên Chúa cứ theo lẽ công thẳng mà xử trị như Đại Hồng Thủy, thì liệu còn có được bao nhiêu người còn sống? Bởi vì như tác giả Thánh Vịnh 142,2 đã viết: “Xin chớ đòi tôi tớ ra xét xử vì trước Thánh Nhan Chúa, chẳng có người nào là công chính”.
Thành phố lớn cỡ Sôđôm và Gômôra, mà chẳng kiếm cho đủ 5 người công chính, điều đó cho thấy số người xứng đáng trước trước mặt Thiên Chúa rất ít, và cũng cho thấy tình thương của Chúa rất bao la.
Rất may trong mọi thời đại (từ sau Chúa Giáng Sinh), không bao giờ vắng bóng các tu sĩ, các linh mục… và những con người đạo đức. Chính họ là những trung gian cầu xin sự tha thứ và xin Chúa ban muôn ơn lành cho nhân loại. Chính các tu sĩ (cách riêng là các Đan Sĩ) họ đang ngày đêm nói khó, ngày đêm mặc cả với Chúa như Abraham trong câu chuyện thành thành Sôđôm bị phá hủy (x. St 19, 23-32). Và có lẽ trong thế giới, dù có tội lỗi đến đâu, vẫn còn có những người ngày đêm hy sinh cầu nguyện để Chúa ban bình an cho nhân loại, dù không hoàn hảo, nhưng chắc chắn họ vẫn được Chúa ưu ái kể họ là “người công chính”. Nếu có mười người công chính thôi, thì Chúa sẽ tha cho cả thành Sôđôm, đang khi mọi nước trên thế giới hầu như đều có sự hiện diện của các tu sĩ, những người được kể là ưu tuyển của Thiên Chúa và theo một cách nào đó, có thể coi là “công chính”, thì làm sao Chúa nỡ đánh phạt thế giới khi hằng ngày vẫn có lớp lớp người giơ tay lên cầu xin sự tha thứ cho nhân loại. Người viết dám mạnh miệng nói rằng, nước Việt Nam vẫn mãi đứng vững vì khắp Trung, Nam, Bắc, đều có những Hội Dòng.
Như vậy, sứ vụ đặc biệt của tu sĩ mà hầu hết mọi tín hữu đều tin tưởng và kỳ vọng, đó là thay thế mọi nguời cách xứng đáng để dâng lên Thiên Chúa những nhu cầu của dân. Vì thế, chúng ta chẳng lạ gì việc người ta cứ đem tiền dâng cúng để nuôi các tu sĩ và đem lễ vật để xin các tu sĩ cầu nguyện cho.

4. Bóng mát
Người viết xin được đưa ra một lập luận nho nhỏ từ đoạn Tin Mừng kể về dụ ngôn hạt cải: “Nước trời giống như hạt cải gieo xuống đất nhưng khi mọc lên thì thành cây rau lớn và chim trời có thể rủ nhau đến trú ẩn”. (x. Lc 13,18-19). Theo suy nghĩ của người viết, tuy cuộc sống âm thầm, nhưng các tu sĩ lại là chỗ dựa tinh thần cho những ai muốn tìm lại sự an tĩnh trong tâm hồn.
Trong những năm gần đây, nhiều người bắt đầu cảm thấy mệt mọi với cơn lốc thị trường, với cảnh xô bồ hối hả, với không gian ồn ào náo nhiệt. Nhiều người cảm thấy sự trống vắng và chán nản, họ bắt đầu tìm đến các chùa chiền và dòng tu để tìm sự an tĩnh, đặc biệt là sự bình an cho tâm hồn. Chính vì vậy mà hơn lúc nào hết, cây đại thụ của Giáo Hội cần tỏa bóng râm để làm giảm bớt sự căng thẳng nóng nực của thế giới, là nơi có thể làm thỏa mãn những nhu cầu tâm linh của con người. Không có gì ngạc nhiên khi các nhà khách của các Đan Viện quá tải vì khách đến tĩnh tâm quá đông, bởi vì khi ra về, hầu hết khách đều chân nhận rằng: Không gian Đan Viện làm cho tâm hồn họ lắng đọng, và đặc biệt mỗi lần tham dự giờ kinh chung với các thầy, các soeurs, lời kinh tiếng hát đã làm cho họ cảm thấy lòng thơ thới hân hoan, cảm nhận được một sự bình an khó tả.

Kết luận
Có nhiều cách phục vụ con người: chính trị gia thì vạch ra chính sách và đường lối cai trị, nhà kinh doanh thì mua bán trao đổi, nhà sản xuất thì làm ra hàng hóa phục vụ các nhu cầu đời sống, y bác sĩ thì chăm lo sức khỏe, bậc phụ huynh thì nuôi nấng bảo ban, các giáo viên thì khai tâm mở trí…, còn các tu sĩ thì có thể làm tất cả các việc ấy, nhưng trên hết, vẫn là làm sao để hiển thị cho mọi người biết chức vị làm con Thiên Chúa, cháy lửa mến yêu Chúa trong tha nhân, luôn giơ tay lên trời để lãnh muôn ơn lành cho thế giới và trở thành nơi đáng tin cậy cho mọi tâm hồn đến nương nhờ.
Đây không phải là một điều gì mới lạ hay là sáng kiến cá nhân, mà chính là đường mà chính Đức Giêsu- Thầy Chí Thánh đã đi. Các tu sĩ còn nhớ: khi giới thiệu Đức Giêsu là Con yêu dấu, Chúa Cha lập tức ra lệnh cho các Tông Đồ phải “vâng theo Ngài”, là phải bắt chước Ngài, phải đi cùng con đường của Ngài đã đi, nghĩa là thực thi trọn vẹn sứ vụ của mình.
Tu sĩ không thực hiện những sứ vụ này trong một thời gian giới hạn, hay là dễ thì làm khó thì lui, nhưng cương quyết thực hiện từng giây phút trong cuộc đời, biến nó thành một nếp sống vĩnh viễn và đóng dấu xác nhận trong trái tim đầy nhiệt huyết của mình. Có như thế, mới thay đổi được lối nhận thức thiển cận của nhiều người từng ca thán: đi tu là uổng phí tài năng, mà trái lại, họ cảm thấy an tâm và vui sướng vì có những tu sĩ tuyệt vời – không làm gì cả, nhưng lại làm tất cả…!